CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ỦY THÁC TƯ PHÁP RA NƯỚC NGOÀI TRONG LĨNH VỰC DÂN SỰ 1. Khái niệm và đặc điểm của ủy thác tư pháp ra nước ngoài trong lĩnh vực dân sự 1. Khái niệm ủy thác tư pháp ra nước ngoài trong lĩnh vực dân sự “Ủy thác” theo Từ điển Tiếng Việt14 là động từ mang nghĩa “giao phó việc quan trọng nào đó cho người tin cậy làm thay mình”. Như vậy, trong “ủy thác” có hai yếu tố, đó là “giao phó” và “làm thay”.
“Tư pháp” được hiểu theo nghĩa rộng, là toàn bộ hoạt động bảo vệ pháp luật, trong đó hoạt động xét xử của Tòa án là trung tâm. Ngoài ra, còn có các hoạt động bổ trợ tư pháp như luật sư, công chứng, đấu giá, giám định tư pháp. Công tác tư pháp hay hoạt động tư pháp gồm hoạt động điều tra, hoạt động truy tố, hoạt động xét xử và hoạt động thi hành án; hệ thống các cơ quan tư pháp được xác định trọng tâm là Tòa án nhân dân thực hiện quyền xét xử; Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; các cơ quan điều tra thực hiện nhiệm vụ điều tra trong tố tụng hình sự và các cơ quan thi hành án15. Hiến pháp năm 2013 tại Khoản 2 Điều 102 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.
Như vậy, bằng quy định này, lần đầu tiên trong Hiến pháp, cơ quan thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam được khẳng định là Tòa án nhân dân, theo đó, quyền tư pháp được hiểu là quyền xét xử16. Tư pháp quốc tế là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động (quan hệ dân sự theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài, quan hệ tố tụng dân sự quốc tế và các vấn đề khác có liên quan17. Tuy nhiên, lý luận về tư pháp quốc tế của nhiều nước còn thừa nhận tư pháp 14 Hoàng Phê (biên soạn, 2018), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr. 15 Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
16 Lê Thu Hà, Quyền tư pháp và cơ quan tư pháp ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Xem thêm tại: http://tcdcpl.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat. 17 Bành Quốc Tuấn (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường ĐH Công nghệ TPHCM, NXB Chính 7 quốc tế không chỉ điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài mà còn điều chỉnh một số quan hệ liên quan đến quá trình Tòa án của một nước thụ lý và giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó có Việt Nam18. UTTP theo nghĩa rộng có thể hiểu là yêu cầu của cơ quan tư pháp này đối với một cơ quan tư pháp khác để yêu cầu thực hiện một hoặc một số hoạt động tố tụng nhất định.
UTTP quốc tế là yêu cầu của cơ quan tư pháp nước này đối với cơ quan tư pháp tương ứng của nước kia thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt trên lãnh thổ của nước có cơ quan được yêu cầu19 20. Khác với định nghĩa do tác giả Bành Quốc Tuấn đưa ra như trên, theo Giáo trình Tư pháp quốc tế (phần chung) của Trường Đại học Luật TPHCM, “UTTP quốc tế là việc Tòa án của một nước yêu cầu Tòa án của nước khác thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết trên lãnh thổ của nước được 8 yêu cầu đó. Các giáo trình, tài liệu nghiên cứu khoa học có liên quan đến UTTP tuy không giống nhau hoàn toàn nhưng đều có điểm chung thống nhất về “ủy thác tư pháp” và “ủy thác tư pháp quốc tế”. Cụ thể, luôn có hai chủ thể trong hoạt động UTTP nói chung và UTTP quốc tế nói riêng, đó là chủ thể có yêu cầu và chủ thể được yêu cầu.
Đồng thời, hoạt động được yêu cầu luôn là hoạt động tư pháp, liên quan đến các hành vi tố tụng cụ thể được mô tả trong nội dung yêu cầu. Tuy nhiên, theo định nghĩa tại Giáo trình Tư pháp quốc tế (phần chung) của Trường Đại học Luật TPHCM thì UTTP quốc tế có chủ thể là Tòa án, điều này là phù hợp với quy định trước đây về UTTP quốc tế, còn hiện hành pháp luật Việt Nam đã có sửa đổi và chủ thể có thẩm quyền UTTP quốc tế còn bao gồm Viện Kiểm sát và cơ quan thi hành án. Theo định nghĩa do tác giả Bành Quốc Tuấn đưa ra thì chủ thể này được xác định là “cơ quan tư pháp”, “cơ quan tư pháp” theo trị quốc gia Sự Thật, tr. 18 Bành Quốc Tuấn (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường ĐH Công nghệ TPHCM, NXB Chính trị quốc gia Sự Thật, tr.
19 Bành Quốc Tuấn (2017), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Trường ĐH Công nghệ TPHCM, NXB Chính trị quốc gia Sự Thật, tr. 20 Trường Đại học Luật TPHCM (2016), Giáo trình Tư pháp quốc tế (phần chung), NXB Hồng Đức, TPHCM, tr. 8 quan điểm trước đây bao gồm Tòa án, Viện Kiểm sát, Cơ quan thi hành án và một số cơ quan khác, nhưng theo Hiến pháp năm 2013 như đã trình bày ở trên thì cơ quan tư pháp lại chỉ được xác định là Tòa án. Trong khi đó pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về thẩm quyền UTTP thuộc về cả ba cơ quan Tòa án, Viện Kiểm sát, Cơ quan thi hành án.
Tuy nhiên có thể thấy rằng giữa nghiên cứu về lý luận và pháp luật thực định có nhiều điểm còn “vênh” nhau do quy định của pháp luật thay đổi nhưng chỉ một phần và cũng không thống nhất. UTTP quốc tế về hình sự là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia đối với cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia khác về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tố tụng cụ thể trong lĩnh vực hình sự như tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự; triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung cấp chứng cứ; truy cứu trách nhiệm hình sự; trao đổi thông tin; các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về hình sự. UTTP quốc tế về dân sự là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia đối với cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia khác về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tố tụng cụ thể trong lĩnh vực dân sự. Lĩnh vực dân sự có thể hiểu theo nghĩa rộng là liên quan đến vấn đề dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Tùy theo lĩnh vực cụ thể mà nội dung UTTP có thể khác nhau nhưng nhìn chung về tổng thể thì đều tuân theo một quy trình chung đối với lĩnh vực dân sự theo nghĩa rộng. Những hoạt động tố tụng cụ thể là tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự; triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung cấp chứng cứ và các yêu cầu khác về dân sự. Theo quy định tại các văn bản pháp luật Việt Nam, “UTTP là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” và “Tương trợ tư pháp được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thông qua UTTP”21. 9 Có thể thấy rằng tuy không đề cập đến thuật ngữ “quốc tế” nhưng khái niệm UTTP theo Luật Tương trợ tư pháp chính là “UTTP quốc tế”.
UTTP bao gồm: a. “UTTP ra nước ngoài” hay còn gọi là “UTTP của Việt Nam”, là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự22. “UTTP của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam” hay còn gọi là “UTTP của nước ngoài”, là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài đề nghị cơ quan có thẩm quyền Việt Nam thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự23. Hiện nay, các thuật ngữ này được sử dụng song song trong các văn bản pháp luật, chưa có sự thống nhất.
Theo tác giả, giá trị pháp lý của Bộ luật Tố tụng dân sự cao hơn Thông tư hướng dẫn thi hành nên việc sử dụng thuật ngữ “UTTP ra nước ngoài” và “UTTP của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam” là phù hợp hơn. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả xác định đề tài tập trung nghiên cứu về UTTP ra nước ngoài trong lĩnh vực dân sự. Mặc dù chưa thống nhất về thuật ngữ nhưng có thể được hiểu cả hai thuật ngữ “UTTP ra nước ngoài” hay “UTTP của Việt Nam” theo quy định của pháp luật Việt Nam đều là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đối với cơ quan có thẩm quyền nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động TTTP trong lĩnh vực dân sự theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Theo đó, “UTTP ra nước ngoài trong lĩnh vực dân sự” có thể được xác định là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia đối với cơ quan có 22BLTTDS 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 sử dụng thuật ngữ “UTTP ra nước ngoài” và “UTTP của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam” để phân định cơ quan có thẩm quyền yêu cầu và được yêu cầu thực hiện hoạt động TTTP.
Trong khi đó theo Khoản 1 Điều 3 TTLT 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC lại sử dụng thuật ngữ “UTTP của Việt Nam” và “UTTP của nước ngoài” để phân định nội dung trên. Theo đó, TTLT 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC quy định “UTTP của Việt Nam là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện một hoặc một số hoạt động TTTP về dân sự”.