Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, sự gia tăng của các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại và lao động có yếu tố nước ngoài đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện cơ chế tương trợ tư pháp. Hiện nay, với hơn 4,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, học tập, làm việc tại nước ngoài và lượng người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam tăng trưởng từ 5% đến 10% mỗi năm, số lượng các tranh chấp dân sự xuyên biên giới phát sinh ngày càng nhiều. Hoạt động ủy thác tư pháp ra nước ngoài trong lĩnh vực dân sự trở thành khâu then chốt, quyết định trực tiếp đến tiến độ và chất lượng xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân.

Thực tiễn thống kê cho thấy số lượng yêu cầu ủy thác tư pháp dân sự của Việt Nam gửi đi nước ngoài đã tăng mạnh từ mức trung bình gần 1.800 hồ sơ mỗi năm trong giai đoạn 2008 - 2011 lên tới gần 3.000 hồ sơ mỗi năm trong giai đoạn 2012 - 2014, trong đó khoảng 80% là các yêu cầu tống đạt giấy tờ, tài liệu tố tụng. Luận văn tập trung nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về ủy thác tư pháp ra nước ngoài trong lĩnh vực dân sự tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là phân tích thực trạng pháp lý theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, hệ thống 18 Hiệp định tương trợ tư pháp song phương và Công ước La Haye năm 1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 01/10/2016. Từ việc chỉ ra tỷ lệ hồ sơ không có kết quả lên tới 52% trong giai đoạn 2014 - 2016, công trình đề xuất các nhóm giải pháp mang tính chiến lược nhằm giảm thiểu án tồn đọng, rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền và các nguyên tắc nền tảng của công pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ tư pháp quốc tế. Về mặt tổ chức quyền lực nhà nước, luận văn vận dụng quy định tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013, khẳng định Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, lấy hoạt động xét xử làm trung tâm và quyền tư pháp là cơ sở thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp.

Về quan hệ quốc tế, nghiên cứu áp dụng lý thuyết chủ quyền quốc gia theo Công ước Montevideo năm 1933 và Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, xác định bản chất của ủy thác tư pháp là sự chuyển hóa từ quan hệ mang tính "tư" của các bên tranh chấp sang quan hệ mang tính "công" giữa các cơ quan có thẩm quyền của hai quốc gia. Bốn khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa gồm:

  • Ủy thác tư pháp ra nước ngoài trong lĩnh vực dân sự: Yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện các hành vi tố tụng cụ thể.
  • Thư thẩm tra (Letters of Request/Rogatory): Phương thức ủy thác quốc tế kinh điển giữa các Tòa án nhằm thu thập lời khai, chứng cứ hoặc tống đạt tài liệu.
  • Nguyên tắc có đi có lại: Cơ chế áp dụng khi hai quốc gia chưa có điều ước quốc tế ràng buộc, đảm bảo việc hỗ trợ tư pháp diễn ra trên cơ sở bình đẳng và không trái pháp luật quốc gia.
  • Các kênh tống đạt đa phương: Hệ thống kênh chính thức qua Cơ quan Trung ương và các kênh thay thế (ngoại giao, lãnh sự, bưu điện) theo điều ước quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích quá trình tiến hóa của pháp luật tương trợ tư pháp Việt Nam từ Thông tư liên bộ số 139/TT-LB năm 1984, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 đến Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm:

  • Toàn văn 18 Hiệp định tương trợ tư pháp song phương giữa Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ.
  • Văn kiện Công ước La Haye năm 1965 về tống đạt (với 71 quốc gia thành viên) và Công ước La Haye năm 1970 về thu thập chứng cứ.
  • Dữ liệu thực tiễn từ Báo cáo số 14/BC-BTP năm 2015 của Bộ Tư pháp tổng kết 6 năm thi hành Luật Tương trợ tư pháp và các Báo cáo số 413/BC-CP năm 2014, Báo cáo số 557/BC-CP năm 2015, Báo cáo số 427/BC-CP năm 2017 của Chính phủ trình Quốc hội.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát hơn 10.000 lượt hồ sơ ủy thác tư pháp phát sinh trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2018. Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng để khảo sát các nhóm hồ sơ chuyển đến các quốc gia có nhiều giao dịch dân sự với Việt Nam (như Hoa Kỳ, Australia, Trung Quốc, Pháp, Hàn Quốc). Phương pháp phân tích, tổng hợp quy phạm kết hợp so sánh luật học (đối chiếu với Quy chế tố tụng dân sự liên bang Hoa Kỳ FRCP 4, Đạo luật Chứng cứ năm 1906 của Australia và Luật Tư pháp quốc tế Thụy Sỹ năm 1987) được lựa chọn nhằm phát hiện những điểm xung đột pháp luật và khoảng trống quy chuẩn trong các văn bản hiện hành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra những phát hiện thực tiễn quan trọng về hoạt động ủy thác tư pháp ra nước ngoài trong lĩnh vực dân sự của Việt Nam:

  • Tỷ lệ ủy thác không có điều ước quốc tế chiếm tỷ trọng áp đảo: Trong giai đoạn 2014 - 2016, có tới 85% tổng số yêu cầu ủy thác tư pháp gửi ra nước ngoài là đến các quốc gia chưa ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp song phương với Việt Nam. Hệ quả là tỷ lệ hồ sơ không nhận được kết quả trả lời lên tới 52%, khiến thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài từ 12 tháng đến nhiều năm.
  • Cơ cấu yêu cầu ủy thác mất cân đối: Khoảng 80% khối lượng hồ sơ ủy thác dân sự tập trung vào hoạt động tống đạt giấy tờ, tài liệu tố tụng; trong khi các hoạt động như thu thập chứng cứ, triệu tập người giám định hoặc xác minh thu nhập chỉ chiếm khoảng 20%.
  • Hiệu quả áp dụng biểu mẫu chuẩn hóa: Sau khi Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC có hiệu lực thi hành, tỷ lệ hồ sơ bị cơ quan có thẩm quyền trả lại do không hợp lệ đã giảm hơn 50%, từ mức 15% trước năm 2011 xuống chỉ còn khoảng 7%.
  • Sự thiếu hiệu quả của nguyên tắc có đi có lại: Chiếm từ 70% đến 75% tổng số yêu cầu gửi đi rơi vào tình trạng phía nước ngoài không tiếp nhận hoặc xử lý chậm trễ do phía nước ngoài không phát sinh yêu cầu tương trợ ngược lại đối với Việt Nam.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ không có kết quả đạt mức 52% bắt nguồn từ sự xung đột sâu sắc giữa quy định pháp luật trong nước và thông lệ quốc tế. Nhiều nước phát triển như Hoa Kỳ (áp dụng quy định 28 U.S.C § 1781 và § 1782) hay Australia (áp dụng Đạo luật Chứng cứ năm 1906) yêu cầu thu phí dịch vụ ủy thác và dịch thuật bắt buộc. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, các văn bản của Việt Nam như Thông tư số 18/2014/TT-BTC hay Thông tư số 203/2016/TT-BTC chưa thiết lập được cơ chế tạm ứng chi phí thực tế phát sinh ở nước ngoài một cách linh hoạt.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua hai nhóm chỉ số: quy mô hồ sơ tăng trưởng 66,7% (từ gần 1.800 lên gần 3.000 hồ sơ/năm) và cơ cấu kênh chuyển giao gồm 18 hiệp định song phương truyền thống đối chiếu với 71 thành viên của Công ước La Haye năm 1965. Việc so sánh với Liên minh Châu Âu (thực hiện theo Quy chế số 1206/2001 loại bỏ khâu trung gian ngoại giao) cho thấy mô hình xử lý qua 5 cấp cơ quan (Tòa án cấp tỉnh - Bộ Tư pháp - Bộ Ngoại giao - Cơ quan đại diện ngoại giao - Cơ quan nước ngoài) của Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại làm phát sinh độ trễ hành chính nghiêm trọng. Khi Việt Nam gia nhập Công ước Tống đạt năm 1965 (có hiệu lực từ ngày 01/10/2016), việc rút ngắn quy trình gửi trực tiếp từ Bộ Tư pháp đến Cơ quan Trung ương của 71 quốc gia thành viên đã mở ra cơ hội đột phá để tháo gỡ điểm nghẽn này.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Xây dựng Luật Tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự độc lập: Quốc hội và Bộ Tư pháp cần khẩn trương tách Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 thành 4 đạo luật chuyên biệt, trong đó xây dựng riêng Luật Tương trợ tư pháp về dân sự nhằm hoàn thiện quy trình tố tụng, mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính trong lộ trình 2020 - 2025.
  • Tối ưu hóa thực thi Công ước La Haye năm 1965 và đẩy nhanh gia nhập Công ước La Haye năm 1970: Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao chuẩn hóa việc tống đạt qua kênh Cơ quan Trung ương, hoàn tất các thủ tục gia nhập Công ước về thu thập chứng cứ năm 1970 trong năm 2019 nhằm nâng tỷ lệ thực hiện ủy thác thành công lên trên 70% trong giai đoạn 2019 - 2022.
  • Hoàn thiện cơ chế thu, nộp và tạm ứng chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bộ Tài chính phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi Thông tư số 203/2016/TT-BTC và hướng dẫn thực thi Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, thiết lập quy chế tạm ứng kinh phí ủy thác ra nước ngoài qua tài khoản thanh toán quốc tế trước ngày 31/12/2019, giải quyết dứt điểm rào cản tài chính tại các nước có thu phí như Hoa Kỳ và Australia.
  • Ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa quy trình tương trợ tư pháp: Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao xây dựng hệ thống phần mềm quản lý liên thông hồ sơ ủy thác tư pháp quốc tế, đặt mục tiêu số hóa 100% việc theo dõi tình trạng xử lý hồ sơ vào năm 2023, giúp kiểm soát hạn chế sai sót thông tin địa chỉ xuống dưới 3%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Thẩm tra viên Tòa án nhân dân: Nắm vững quy trình tống đạt văn bản theo 5 kênh của Công ước La Haye năm 1965 và 18 Hiệp định song phương, ứng dụng Sổ tay hướng dẫn tương trợ tư pháp năm 2018 để giải quyết án dân sự, hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài đúng thời hạn luật định.
  • Luật sư, Thừa phát lại và Trợ giúp viên pháp lý: Sử dụng công trình làm cẩm nang hướng dẫn khách hàng chuẩn bị hồ sơ ủy thác, dịch thuật hợp lệ, dự toán chính xác các khoản chi phí tống đạt và thu thập chứng cứ tại nước ngoài để bảo vệ tối đa quyền lợi của đương sự.
  • Cán bộ làm công tác lãnh sự, ngoại giao và chuyên viên hợp tác quốc tế: Tham khảo cơ sở pháp lý và kinh nghiệm xử lý các bất cập khi thực hiện tống đạt giấy tờ cho hơn 4,5 triệu kiều bào ở nước ngoài theo các kênh đại diện ngoại giao trực tiếp và gián tiếp.
  • Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tư pháp quốc tế: Khai thác hệ thống số liệu thực tiễn phong phú, các phân tích so sánh luật học đối chiếu giữa Việt Nam, Hoa Kỳ, Australia và Thụy Sỹ để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Ủy thác tư pháp ra nước ngoài trong lĩnh vực dân sự gồm những hoạt động tố tụng cụ thể nào?
Theo quy định tại Điều 10 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các hoạt động bao gồm: tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung cấp chứng cứ và các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án.

Khi gửi yêu cầu ủy thác đến quốc gia chưa ký Hiệp định với Việt Nam, Tòa án xử lý theo nguyên tắc nào?
Yêu cầu ủy thác sẽ được xử lý theo nguyên tắc có đi có lại, tuân thủ pháp luật Việt Nam và tập quán quốc tế. Hồ sơ chuyển tiếp tuần tự qua Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài rồi chuyển đến Bộ Ngoại giao và cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại.

Công ước La Haye năm 1965 tạo ra bước chuyển biến nào cho công tác tống đạt của Tòa án Việt Nam?
Kể từ ngày 01/10/2016, Việt Nam có thể tống đạt giấy tờ trực tiếp thông qua Cơ quan Trung ương của 71 quốc gia thành viên theo các biểu mẫu chuẩn hóa quốc tế, giảm thiểu thủ tục ngoại giao trung gian và rút ngắn đáng kể thời gian nhận phản hồi kết quả tống đạt so với trước đây.

Nguyên nhân chủ yếu khiến tỷ lệ ủy thác không có kết quả trước đây lên tới 52% là gì?
Do 85% hồ sơ gửi đến các nước chưa có hiệp định, sự thiếu thông tin về địa chỉ đương sự, bất đồng ngôn ngữ, và việc thiếu cơ chế thanh toán phí dịch vụ tư pháp cho các cơ quan thẩm quyền nước ngoài như tại Hoa Kỳ, Australia hoặc Nhật Bản.

Đương sự yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài phải nộp những khoản chi phí nào?
Theo Thông tư số 203/2016/TT-BTC và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, đương sự phải nộp lệ phí ủy thác tư pháp cố định (khoảng 1.000.000 đồng/hồ sơ) cùng toàn bộ chi phí thực tế phát sinh gồm phí dịch thuật, công chứng và các khoản phí dịch vụ theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện nền tảng lý luận về ủy thác tư pháp ra nước ngoài trong lĩnh vực dân sự, xác lập tính chất giao thoa giữa tư pháp quốc tế và công pháp quốc tế.
  • Khảo sát thực tiễn giai đoạn 2008 - 2018 với quy mô hàng ngàn hồ sơ hàng năm, làm rõ những vướng mắc khi 85% yêu cầu gửi đến các nước chưa có hiệp định song phương.
  • Đánh giá sâu sắc tác động tích cực của Công ước La Haye năm 1965 và chỉ ra tính cấp thiết của việc tham gia Công ước La Haye năm 1970 về thu thập chứng cứ.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về lập pháp, cải cách tài chính tư pháp, số hóa hồ sơ và mở rộng đàm phán điều ước quốc tế đa phương.
  • Về lộ trình hành động tiếp theo, các cơ quan chức năng cần hoàn thiện dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, đưa các giải pháp vào thực tiễn xét xử nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền dân sự của công dân và doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập toàn cầu.