Đặt vấn đề : a) Vấn đề tổng quát : Vấn đề nghiên cứu tổng quát được đề tài xác định cụ thể như sau : - Phần lớn các yếu tố môi trường có ảnh hưởng rộng và tác động nhiều mặt vào đời sống kinh tế, xã hội; không có hoặc không thể xác lập quyền sở hữu rõ ràng do những hạn chế về mặt luật pháp và về kỹ thuật. Và do đó, giá trị của phần lớn các yếu tố môi trường không được xác định hoặc rất khó xác định. - Con người khai thác các yếu tố môi trường để phục vụ cho cuộc sống nói chung, và qua đó làm ảnh hưởng đến môi trường, tức gây nên các ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của chính con người. Do đó, các yếu tố môi trường phải được xem như một nguồn tài nguyên có giới hạn, cần phải sử dụng một cách thận trọng và hiệu quả.
- Các tác động gây ô nhiễm môi trường không được qui trách nhiệm cụ thể, không có những qui định pháp chế rõ ràng về trách nhiệm của người gây ô nhiễm đối với người bị ảnh hưởng do ô nhiễm. Trong điều kiện thị trường hàng hóa cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, các chính sách “thông thoáng” của nhà nước thu hút đầu tư, quản lý môi trường lỏng lẻo, các doanh nghiệp có xu hướng tận dụng môi trường đến mức tối đa để giảm chi phí sản xuất đến Trang 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mức thấp nhất bằng cách tận dụng các yếu tố môi trường mà khi sử dụng không phải trả tiền hay phải trả với mức rất thấp như hiện nay. Từ đó, việc xác định giá trị (hay định giá) các lợi ích khai thác được từ môi trường là cần thiết để làm cơ sở cho các quyết định liên quan đến khai thác và sử dụng hiệu quả các yếu tố môi trường. Nói cách khác, xác định đầy đủ giá trị kinh tế của môi trường sẽ giúp cho quyết định sử dụng môi trường một cách hiệu quả hơn.
b) Vấn đề nghiên cứu cụ thể : - Khi xây dựng nhà máy, đa số các doanh nghiệp đã lựa chọn vị trí bên bờ sông Thị Vải để sử dụng dòng sông cho vận tải thủy. Hay, vận tải thủy là một điều kiện cần quan trọng cho hoạt động của đa số các doanh nghiệp. - Sông Thị Vải trải dài trên địa bàn huyện Long Thành – Nhơn Trạch thuộc tỉnh Đồng Nai và phần hạ lưu là ranh giới hành chánh tự nhiên giữa tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và TP. Hồ Chí Minh, vận tải thủy qua sông Thị Vải của tất cả các phương tiện không hề bị cản trở bởi các yếu tố sở hữu của dòng sông hay ranh giới hành chánh giữa các địa phương.
Chức năng vận tải thủy của dòng sông là một dạng hàng hóa công, chưa được xác định giá trị trên thị trường. Khi chức năng này không còn nữa (vì bất kỳ lý do gì), thì : o Các doanh nghiệp hiện tại bên bờ sông phải sử dụng các phương án vận tải khác để có thể tiếp tục hoạt động. Sự chênh lệch về đơn phí sản xuất (so với đơn phí sản xuất khi sử dụng chức năng vận tải thủy của dòng sông) được xem là một phần giá trị vận tải của dòng sông trên một đơn vị sản phẩm. o Ngoài ra, khi chức năng vận tải của dòng sông không còn nữa thì cũng ảnh hưởng đến lợi ích thứ cấp: Làm cho khả năng thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp hai bên bờ sông bị hạn chế, ảnh hưởng đến những kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của khu vực và của cả tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trong phạm vi bài viết này không nghiên cứu sâu về mặt định lượng của tác động thứ cấp này. Trang 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tạo cơ sở cho những nhà hoạch định chính sách phát triển kinh tế của địa phương trong việc : o Cân đối giữa chi phí để bảo vệ chức năng vận tải thủy của sông Thị Vải và lợi ích kinh tế mà chức năng vận tải thủy này mang lại. o Qui định vai trò và sự đóng góp của các doanh nghiệp - những chủ thể đang hưởng lợi và cũng đang làm hại môi trường sông Thị Vải - vào sự bảo vệ chức năng vận tải thủy của dòng sông. Từ đó, tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế - xã hội chung của địa phương và sự phát triển của các khu công nghiệp bên bờ sông Thị Vải một cách bền vững.
Mục tiêu nghiên cứu : Nghiên cứu này tập trung vào : - Ước lượng giá trị kinh tế về mặt vận tải thủy của dòng sông. - Từ đó, làm cơ sở cho các giải pháp chính sách liên quan đến dòng sông và sự phát triển kinh tế trong khu vực. Đối tượng nghiên cứu : Chức năng vận tải thủy của dòng sông chủ yếu được sử dụng bởi các doanh nghiệp hai bên bờ sông trong nhập, xuất nguyên liệu và sản phẩm. Một phần nhỏ dân cư trong khu vực cũng sử dụng chức năng này để vận chuyển hàng hoá, nhưng với qui mô nhỏ và sử dụng thuyền gỗ, tính ăn mòn do sự ô nhiễm của dòng sông ảnh hưởng rất ít đến việc sử dụng chức năng vận tải thủy của dòng sông.
Mặt khác, cư dân trong khu vực chủ yếu sử dụng chức năng vận tải thủy để cung cấp hàng hoá với qui mô nhỏ cho các tàu hàng cập cảng trong khu vực. Vì vậy, nếu không có họat động của các tàu hàng trên dòng sông, thì chức năng vận tải thủy sẽ được cư dân sử dụng không đáng kể. Giá trị kinh tế về chức năng vận tải thủy của dòng sông, chủ yếu gắn liền với hoạt động của các tàu xuất nhập hàng trong khu vực, mà các doanh nghiệp trong khu vực Trang 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có sử dụng vận tải thủy trong hoạt động sản xuất kinh doanh là những đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ chức năng này. Vì vậy, đối tượng nguyên cứu của đề tài là các doanh nghiệp trong khu vực có sử dụng vận tải đường thủy cho hoạt động sản xuất và phân phối hàng hóa.
Câu hỏi nghiên cứu : Trong trường hợp ô nhiễm dòng sông làm cho các hãng tàu không thể ra vào dòng sông được, các doanh nghiệp phải chọn giải pháp thay thế cho vận tải thủy để tiếp tục hoạt động, thì : a) Chênh lệch đơn phí sản xuất trung bình của các doanh nghiệp khi dùng vận tải đường bộ thay thế là bao nhiêu ? b) Chênh lệch đơn phí sản xuất của các ngành sản xuất khác nhau (tức loại sản phẩm khác nhau) khi sử dụng vận tải đường bộ thay thế là bao nhiêu ? c) Các giải pháp nào cần thiết để bảo vệ môi trường sông cho sự phát triển công nghiệp trong khu vực ? I. Phương pháp nghiên cứu : Phương pháp nghiên cứu sử dụng bao gồm : - Thống kê mô tả : Xác định mối quan tâm chung của các đối tượng nghiên cứu đối với các vấn đề nghiên cứu đặt ra. - Mô hình kinh tế lượng : Dựa vào những điều kiện thực tế để xác định mối quan hệ giữa giá trị cần đánh giá – giá trị chức năng vận tải thủy - với các yếu tố quan hệ khác - Phương pháp chi phí thay thế áp dụng trong đánh giá giá trị môi trường : Dùng để lượng hóa giá trị chức năng vận tải thủy của dòng sông. Ứng dụng của đề tài : Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho các quyết định : - Lựa chọn ngành sản xuất thu hút đầu tư vào khu vực, và xác định mức độ phát triển thích hợp của khu vực trong mối quan hệ với bảo vệ chức năng vận tải thủy của dòng sông.
Trang 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Cân đối giữa nguồn thuế thu được từ các doanh nghiệp và các quyết định ngân sách để bảo vệ môi trường sông. - Các chính sách chế tài trong bảo vệ môi trường sông. Trang 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giới thiệu các phương pháp đánh giá giá trị môi trường : Theo David Pearce (2002), môi trường là một loại hàng hóa phi thị trường (không được mua bán trên thị trường), xác định giá trị kinh tế của môi trường là xác định giá trị bằng tiền qua mức sẳn lòng chi trả (WTP – Willing To Pay) khi sử dụng những lợi ích có được từ môi trường, hoặc là mức sẳn lòng chấp nhận bồi thường (WTA – Willing To Accept) khi phải chịu đựng những thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây nên.
Hiện nay có nhiều phương pháp đánh giá khác nhau áp dụng phù hợp cho từng thành phần giá trị khác nhau trong tổng giá trị kinh tế của môi trường. Giá trị kinh tế của môi trường : Tổng giá trị kinh tế của môi trường được mô tả qua đẳng thức : TEV = UV +NUV Với : TEV - Tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value) UV - Giá trị sử dụng (Use Values) : Là những giá trị được xác định từ việc sử dụng thật sự tài nguyên môi trường. Bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp. NUV - Giá trị phi sử dụng (Non-Use Value) : Là những giá trị phải chi trả để giữ gìn cho mục đích sử dụng tương lai.1 : - Giá trị sử dụng trực tiếp bao gồm giá trị của những sản vật (là những thứ ăn được; những vật dùng để trang sức, trang trí; thuốc chữa bệnh, nguồn nguyên liệu cho sản xuất) và của những chức năng mà môi trường mang lại (những chức năng có ích cho hoạt động giải trí của con người; chức năng phân hủy chất thải; những chức năng trong nghiên cứu, giáo dục; và các dịch vụ có ích khác…).
Ví dụ : - Rừng cho gỗ, các loại lâm sản, và tạo môi trường cho du lịch sinh thái; Sông cho thủy sản, chức năng vận tải thủy… Trang 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tổng giá trị kinh tế (TEV) Giá trị sử dụng Giá trị phi sử dụng (UV) (NUV) Giá trị sử dụng Giá trị sử dụng Giá trị Giá trị trực tiếp gián tiếp nhiệm ý tồn tại Sản phẩm có thể được Lợi ích về các chức Những giá trị được sử Những giá trị về sử dụng trực tiếp năng dụng trực tiếp hoặc gián sự tiếp tục tồn tiếp trong tương lai.