Chương 1: Phát hiện vấn đề cần giải quyết Chương 2: Cơ sở lý thuyết TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Chương 3: Kiểm chứng vấn đề cần giải quyết và dự đoán nguyên nhân tác động Chương 4: Kiểm chứng nguyên nhân và đề xuất giải pháp Chương 5: Xây dựng kế hoạch hành động TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1: PHÁT HIỆN VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 1.1 Khái quát về Công ty CP Đầu Tƣ Và Thƣơng Mại DIC 1.1 Thông tin pháp nhân Tên Công ty: Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại DIC Tên Tiếng Anh: DIC Invesment and Trading Joint Stock Company Tên giao dịch: DIC – INTRACO Vốn điều lệ: 265.000 đồng Địa chỉ: 82 Trần Huy Liệu, Phường 15, Q. Phú Nhuận, Tp. HCM Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0302979487 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp.HCM cấp ngày 14 tháng 01 năm 2005. Các Công ty con và Công ty liên kết: Công ty Cổ phần Đầu tư & Thương mại DIC Đà Nẵng Chi nhánh DIC – INTRACO (Xí nghiệp ngói màu Quận 9) Chi nhánh DIC (Xí nghiệp ngói màu Bình Chánh) Công ty Cổ phần Đầu tư & Thương mại DIC Đà Lạt (Nhà máy sản xuất ngói màu tại Đà Lạt) Chi nhánh Công ty DIC – INTRACO (Nhà máy xi măng DIC B nh Phước) Công ty Cổ phần Thương mại Vận tải Minh Phong Công ty Cổ phần Thiết bị Công nghệ DIC Chita Công ty Cổ phần DIC Energy Công ty liên doanh, liên kết Công ty Cổ phần Xi măng Hữu Nghị 2 (Yến Mao) Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Hướng Việt 1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Công tyCổ phần Đầu tư & Thương mại DIC tiền thân đây là Công ty con trực thuộc bởi Công ty Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC Corp) – Công ty Nhà nước đã được thành lập theo Quyết định số 217/HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Theo Quyết định số 388/QĐ – BXD ngày 08/04/2003 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Công ty được chuyển thành Công ty DIC Đầu tư & Thương mại và là Công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 ty con 100% vốn nhà nước do Công ty mẹ, Công ty Đầu tư Phát triển Xây dựng đầu tư vốn. Đến năm 2005, Công tyCổ phần Đầu tư & Thương mại DIC được thành lập chính thức căn cứ theo Quyết định số 1981/QĐ – BXD ngày 09/12/2004 do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành về việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Công ty DIC Đầu tư & Thương Mại. Từ năm 2006 đến nay, mã chứng khoán DIC được niêm yết chính thức trên sàn giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.3 Ngành nghề kinh doanh chính Công ty DIC – INTRACO hoạt động trong các ngành kinh doanh chính sau đây: Về thƣơng mại – xuất nhập khẩu: Xuất nhập khẩu mặt hàng clinker, thạch cao; Xuất nhập khẩu gỗ, trang trí nội thất; Xuất nhập khẩu sắt thép; Xuất nhập khẩu các mặt hàng nông sản: mè, sản phẩm từ mè, trái cây các loại; Về dịch vụ: Kinh doanh vận tải đường sông với 4 xà lan: Trung Hiếu 1,2,3,4; Kinh doanh vận tải đường biển – tàu Minh An; Về đầu tƣ xây dựng dự án: Khu công nghiệp xen lẫn khu dân cư 300 ha Xuân Thới Thượng; Hợp tác đầu tư xây dựng Nhà máy Xi Măng Hữu Nghị 2; Cao ốc thương mại và văn phòng cho thuê 112 Trần Hưng Đạo; Về sản xuất: Ngói màu cao cấp sản xuất theo công nghệ Nhật Bản mang thương hiệu DIC – Intraco; Xi măng DIC - Intraco; Các sản phẩm chính: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Ngói màu: Được sản xuất nhà máy sản xuất ngói màu cao cấp tại Quận 9, huyện B nh Chánh (HCM), Đà Nẵng và Đà Lạt nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng ngày càng cao của thị trường phía Nam như TP.HCM, Vũng Tàu, Đà Lạt, Gia Lai – Kontum, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ.
Clinker – thạch cao – đá vôi: đây là nguồn nguyên liệu chính được dùng trong sản xuất các sản phẩm xi măng. Với việc cung cấp hơn 60% thị trường sản xuất xi măng miền Nam, DIC – INTRACO luôn tự hào là một trong những doanh nghiệp đứng đầu kinh doanh mặt hàng clinker. Các sản phẩm mà Công ty kinh doanh đã có mặt ở nhiều quốc gia như Đài Loan, Philippin, Bangladesh, Singapore, Trung Quốc. Sắt thép: Hiện Công ty đang kinh doanh 2 mặt hàng chủ đạo là thép xây dựng và thép dùng trong công nghiệp.
Việc đảm bảo về chứng chỉ xuất xứ và chất lượng là điều mà khách hàng luôn đánh giá cao về các sản phẩm thép của Công ty. Gỗ: Các sản phẩm gỗ của Công ty chủ yếu là do nhập khẩu. Nguồn gốc gỗ đến từ các đối tác lâu năm như Myanmar, Campuchia, Lào, Châu Phi, đặc biệt hiện nay DIC – INTRACO đang chiếm lĩnh được thị trường TP. HCM, Đồng Nai, và các tỉnh thuộc Đông và Tây Nam Bộ về các sản phẩm gỗ tròn căm xe, đây là mặt hàng chủ chốt và mang lại nhiều lợi nhuận cho Công ty.
Xi măng: Công ty DIC - INTRACOchuyên sản xuất các loại xi măng hỗn hợp từ các loại clinker chất lượng cao có nguồn gốc từ miền Bắc cùng với các loại thạch cao được nhập khẩu từ nước ngoài và nhiều loại phụ gia khác. Hiện nay DIC – INTRACO đã sản xuất cũng như tung ra thị trường nhiều loại xi măng nhưng chủ yếu là PCB40, PCB30, vữa măng dùng trong xây tô. Song song đó nhà máy vẫn tiến hành nghiên cứu thêm để cho ra đời các loại xi măng với tính chất đa dụng nhằm đáp ứng cho nhu cầu ngày càng đa dạng của đông đảo người tiêu dùng.4 Cơ cấu tổ chức Mô hình quản trị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Công ty được tổ chức theo mô h nh Công ty cổ phần, đứng đầu là Đại hội cổ đông, Ban Kiểm soát, Hội đồng Quản trị và Ban Điều hành. Cơ cấu bộ máy quản lý ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG BAN KIỂM SOÁT HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN TỔNG GIÁM ĐỐC GIÁM GIÁM GIÁM GIÁM GIÁM GIÁM ĐỐC ĐỐC ĐỐC ĐỐC ĐỐC ĐỐC KINHD TÀI DỰ BỘ NHÀ NHÂN OANH CHÍNH ÁN PHẬN MÁY SỰ VẬN NGÓI TẢI BP BP BP BP BP NHÀ BP KD KD KẾ DỰ ÁN QUẢ MÁY HÀNH XNK NỘI TOÁN – XÂY N LÝ NGÓI CHÍNH ĐỊA TÀI DỰNG VẬN NHÂN CHÍNH TẢI SỰ Sơ đồ1.1 : Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty (Nguồn: Bộ phận hành chính – nhân sự của Công ty) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Nhận diện vấn đề cần giải quyết 1.1 Vấn đề cần giải quyết và nguyên nhân vấn đề vẫn tồn tại Về phương diện tài chính: Công ty có cơ cấu về doanh thu hàng năm không ổn định, bên cạnh đó, số liệu về doanh thu các năm cũng cho thấy sự sụt giảm trong doanh thu của Công ty, nếu năm 2017, doanh thu đạt 2,255 tỷ đồng, th đến năm 2018, doanh thu chỉ đạt khoảng 1,447 tỷ đồng.
Công ty đánh giá khía cạnh tài chính dựa trên một số chỉ tiêu tài chính như đánh giá cơ cấu tài sản (Tài sản ngắn hạn/Tổng tài sản; Tài sản dài hạn/Tổng tài sản), đánh giá cơ cấu nguồn vốn (Nợ phải trả / Tổng nguồn vốn; Nguồn vốn CSH/ Tổng nguồn vốn), đánh giá tỷ suất lợi nhuận (Tỷ suất LNST /Tổng tài sản; Tỷ suất LNST /DT thuần; Tỷ suất LNST /Vốn CSH). Tuy nhiên Công ty vẫn chưa xây dựng mục tiêu tài chính cụ thể qua các năm, cũng như chưa chú trọng đến tăng trưởng doanh thu mà hầu hết tập trung vào tỷ lệ lãi gộp hàng năm, việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của Công ty không phản ánh được việc Công ty có đạt được mục tiêu chiến lược của Công ty hay không. Về phương diện khách hàng: Từ lúc hình thành và phát triển, đến nay Công ty đã hợp tác trên 400 khách hàng. Đối tượng khách hàng chính của Công ty xác định là tất cả các loại hình Công ty với quy mô vừa và lớn.
Khách hàng thuộc phân khúc này luôn yêu cầu về sự quản lý chuyên nghiệp, sự cam kết về chất lượng hàng hóa, yêu cầu về tiến độ thực hiện cao. Do đó, đây cũng là một trong những thách thức để Công ty hoàn thiện chuyên nghiệp hơn để đáp ứng môi trường đầy tính cạnh tranh hiện nay. Trên thực tế Công ty có nghiên cứu, tìm hiểu, xác định điểm mạnh và điểm yếu của đơn vị, tuy nhiên, công tác này chưa được thực hiện một cách khoa học. Phần lớn các hợp đồng của Công ty đã đáp ứng được tiến độ thực hiện trên 68%, vượt tiến độ thực hiện 10%, tuy nhiên nhiều hợp đồng vẫn còn tồn đọng, chậm trễ so với thời gian ký kết ban đầu.
Nguyên nhân chính là do sự chủ quan của cán bộ nhân viên, không lường trước được những rủi ro có thể gặp phải khi đang thực hiện hợp đồng cả về những rủi ro khách quan như t nh h nh mưa bão, thời tiết, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thủy triều,….hay nguyên nhân chủ quan chủ yếu liên quan đến tài chính của Công ty từ đó ảnh hưởng đến sự hài lòng khách hàng khi hợp tác kinh doanh với DIC. Về phương diện quy trình kinh doanh nội bộ: Quá trình hoạt động của Công ty bao gồm 4 quy trình: quy trình tìm kiếm khách hàng, quy tr nh thương thảo và ký hợp đồng, quy trình thực hiện hợp đồng, quy trình quyết toán khối lượng và thanh toán. Mặc dù các quy trình kinh doanh nội bộ của Công ty được thiết lập tương đối hệ thống, rõ ràng, nhưng giữa những quy trình vẫn tồn tại sự chồng chéo về trách nhiệm của một số bộ phận dẫn đến sự sai sót, chậm trễ. Điển hình, bộ phận kinh doanh và bộ phận kế toán chưa có sự phối hợp chặt chẽ.
Sau khi nhận được đơn đặt hàng đã ký từbộ phận kinh doanh, nhân viên giao nhận sẽ tiến hành nhận hàng từ nhà cung cấp, nhưng hàng hóa được tập kết tại cảng hoặc tại nhà máy,điều này dễ dẫn đến các sai sót về khối lượng hoặc chất lượng hàng hóa được giao thực tế tại địa điểm tập kết so với đơn đặt hàng. Sau đó kế toán lại chính là người phụ trách đối chiếu khối lượng bằng văn bản mà vẫn chưa thấy được hàng hóa. Đó chính là sự lỏng lẻo của một số bộ phận hiện nay. Thêm nữa, sau khi hoàn tất giao hàng cho khách hàng, bộ phận kinh doanh (tùy mặt hàng) lại không có trách nhiệm thu hồi công nợ.
Đây là một vấn đề bất cập trong quy trình kinh doanh nội bộ.