CHƯƠNG 1 : CÁC DẠNG HƯ HỎNG KẾT CẤU NHỊP CẦU BTCT Ở KHU VỰC PHÍA NAM VÀ PHƯƠNG PHÁP SỬA CHỮA.Các dạng cầu BTCT ở khu vực phía Nam: Trong mạng lưới giao thông đường bộ hiện nay ở khu vực phía Nam của đất nước ta, cầu BTCT chiếm số lượng rất lớn, hơn 70% công trình cầu. Trải qua hai cuộc chiến tranh, trong điều kiện đất nước bị chia cắt trong thời gian dài, chịu ách đô hộ của Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, hệ thống cầu BTCT trong khu vực cũng mang nhiều đặc điểm riêng theo từng thời kỳ. Về chủng loại, chúng gồm nhiều thể loại khác nhau rất đa dạng như cầu bản, dầm hẫng, dầm sườn, dàn. Được xây dựng và đưa vào khai thác trong những thời điểm khác nhau: trước năm 1954, 1954 – 1975, 1975 đến nay, mỗi giai đoạn áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế khác nhau : Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc , Châu Âu, Việt Nam với các dạng khổ cầu, tải .trọng, mặt cắt ngang khác nhau.
Hiện nay, các cầu được xây dựng từ sau 1975 đến nay theo tiêu chuẩn TCVN 18 – 79 có thời gian khai thác chưa lâu, tải trọng thiết kế lớn, phù hợp với mức độ lưu thông hiện tại nên vẫn đang còn sử dụng tốt, chưa xuất hiện hư hỏng đáng kể. Phần lớn cầu được xây dựng trước năm 1954 do có tuổi thọ và tải trọng khai thác vượt tải cao lại chịu nhiều hậu quả tác động từ các cuộc chiến tranh nên đã bị xuống cấp nghiêm trọng, xuất hiện nhiều hư hỏng gây giảm yếu khả năng chịu tải của kết cấu. Đây là các công trình cần đặc biệt quan tâm, thường xuyên theo dõi và sửa chữa nâng cấp để đảm bảo an toàn cho lưu thông.Cầu BTCT được xây dựng trong thời gian trước 1954: Các cầu BTCT trong thời kỳ này chủ yếu là do Pháp xây dựng trong quá trình xâm lược nước ta, hiện nay phần lớn còn lại ở các tỉnh phía Nam. Bao gồm các dạng chủ yếu sau đây : - Cầu dầm hẫng và dầm hẫng nhịp đeo : Các cầu loại này được xây dựng từ thời Pháp thuộc ( trước năm 1945 ) theo các tiêu chuẩn cũ của Pháp, thường tập trung nhiều ở các tỉnh phía Nam như quốc lộ 1, quốc lộ 91, quốc lộ 80.
Chúng có nhịp ngắn, khổ hẹp và tải trọng thấp. + Cầu dầm hẫng : có nhịp ngắn dưới 50m, gồm từ 2 – 4 dầm chủ có chiều cao dầm chủ thay đổi theo phương dọc cầu. Mặt cắt ngang gồm 2 dầm chủ có khổ cầu 3.5m như cầu Cái Dầu, Cái Bường, quốc lộ 80, tỉnh Đồng Tháp. Mặt cắt ngang HỌC VIÊN : TRỊNH ĐÔNG PHƯƠNG CBHD : PGS.TS NGUYỄN NGỌC LONG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TRANG 11 3 dầm chủ có khổ cầu 4,5-5,5m như cầu Cái Dung, quốc lộ 91, tỉnh An Giang.
Mặt cắt ngang 4 dầm chủ có khổ cầu 5,5-6,5m như cầu Cái Sơn, Tầm Bót, cầu số 2, số 4, cầu Rạch Gòi Lớn, quốc lộ 91, tỉnh An Giang. Nhịp biên là nhịp hẫng có chiều dài khoảng 0,3 chiều dài nhịp chính. Trụ cầu được bố trí sát bờ nên ít ảnh hưởng đến thông thuyền và dễ thi công. Các dạng cầu này thường được xây dựng trên các dòng sông có bề rộng nhỏ.
+ Cầu dầm hẫng nhịp đeo : được xây dựng trên các sông lớn, có nhịp thông thuyền trên 30m, ví dụ cầu Vịnh Tre, cầu Trà Ôn cũ, quốc lộ 91, tỉnh An Giang. Cầu Vịnh Tre dài 71m, mặt cắt ngang gồm 3 dầm chủ cách nhau 2,7 m. Cầu Trà Ôn dài 41m, mặt cắt ngang gồm 2 dầm chủ cách nhau 5,26m và 1 dầm dọc phụ ở giữa 2 dầm chủ. Các cầu này thi công theo kiểu đổ tại chỗ, lề đi bộ cao hơn mặt cầu và là một phần của dầm biên nhô cao.
- Cầu có dàn biên song song : kết cấu nhịp có dàn biên song song thường có chiều dài trên 15m, kiểu biên hở, khoảng cách tim 2 dàn chủ là 5,5m có dầm dọc phụ ở giữa 2 biên dàn. Chiều dài mỗi khoang dàn là 2,5m, cao 2,4m. Ví dụ : cầu Cái Xếp, Cái Cỏ, Bà Phú, quốc lộ 80, Đồng Tháp. - Cầu có dàn biên cong : thường có 2 dạng chính : + Dàn mút thừa 3 nhịp, dàn biên có dạng cong theo biểu đồ momen, chiều dài nhịp chính là 30m, nhịp biên 7m.
Ví dụ : cầu chữ S, quốc lộ 91, cầu Cái Vồn Lớn, Đầu Sấu 1 , quốc lộ 1. + Dạng vòm dầm có thanh treo và thanh xiên bằng BTCT.Hệ mặt cầu gồm 2 dầm chủ và một dầm dọc phụ ở giữa. Chiều dài kết cấu nhịp khoảng 15m đối với kiểu vòm dầm không có thanh xiên, ví dụ cầu Tôn Chất, Đốc Đinh, Láng Sen, Bà Phủ, quốc lộ 80. Khi nhịp dầm khoảng 30m , chiều cao vòm lớn và có bố trí các thanh treo và thanh xiên, ví dụ : cầu Đường Xuồng, Bờ Ao, quốc lộ 80, tỉnh Cần Thơ.
HỌC VIÊN : TRỊNH ĐÔNG PHƯƠNG CBHD : PGS.TS NGUYỄN NGỌC LONG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TRANG 12 Hình 1.Kết cấu nhịp hẫng cầu Rạch Gòi Lớn cũ, quốc lộ 91, An Giang 1. Cầu BTCT được xây dựng từ 1954 đến 1975 : Đây là thời kỳ Miền Nam nằm trong tay của Đế quốc Mỹ và tay sai, các công trình cầu được xây dựng theo tiêu chuẩn AASHTO của Mỹ với các loại tải trọng HS 20 - 44,HS 25 - 44. Mặt cắt ngang dầm hình chữ T, khoảng cách giữa các dầm nhỏ từ 0. Chiều dài nhịp từ 12.
Ví dụ : Cầu Hang, cầu Suối Linh, quốc lộ 1, Đồng Nai – chiều dài nhịp : 24,7m, mặt cắt ngang gồm 23 dầm T BTCT; các cầu trên quốc lộ 91, An Giang như :Sang Trắng gồm 3 nhịp 12,5m; Thốt Nốt gồm nhịp 21,7m và 24,7m; , Bò Ót gồm nhịp 15,5m và 21,7m. Cầu BTCT được xây dựng từ 1975 đến nay : Các cầu này do đất nước ta xây dựng thiết kế theo tiêu chuẩn TCVN 18-79, với các loại tải trọng H13, H18 – X60, H30 – XB 80, gồm có dạng bản và dầm sườn: - Cầu bản : có chiều dài dưới 6m, thường có kết cấu nhịp giản đơn như : cầu Bản dài 4m, quốc lộ 28; cầu Suối Đá, Bình Quý, Gò Dưa, dài 6m, quốc lộ1. Cầu bản cũng có nhịp bản liên tục 2 nhịp, trong đó, tân dụng kết cấu mố, trụ làm cửa xả nước cho kênh thủy lợi. Ví dụ : Cầu Chinh Phụ, Cây Hẹ, quốc lộ 60, Trà Vinh.
- Cầu dầm sườn BTCT : mặt cắt dầm chủ dạng chữ T có hoặc không mở rộng bầu dầm, chiều dài nhịp từ 9 – 24m. Các dầm chủ thường được đổ bê tông tại chỗ, chất lượng đầm nén trong thi công không tốt nên bê tông đáy dầm chất lượng HỌC VIÊN : TRỊNH ĐÔNG PHƯƠNG CBHD : PGS.TS NGUYỄN NGỌC LONG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TRANG 13 kém, thường có lỗ rỗng. Ví dụ : cầu Bà Bổn, cầu Gờ Dưa, cầu Hộ Phòng, quốc lộ 1, Bạc Liêu ; cầu Cái Sậy, Tân Trường , quốc lộ 30, Đồng Tháp; 1. Các dạng hư hỏng kết cấu nhịp cầu BTCT : Như mọi cấu kiện bằng vật liệu BTCT, các loại cầu BTCT thường có các hình thức hư hỏng chung là xốp rỗ bề mặt ( bị cacbonat hóa ); vỡ bê tông, hở cốt thép; các dạng vết nứt bê tông.
Để thuận lợi trong việc nhận biết , đánh giá mức độ trầm trọng và đề ra giải pháp sửa chữa hợp lý, ta phân các loại hư hỏng thành các nhóm chính : - Hư hỏng loại 1 : Các hư hỏng nhẹ, không làm giảm cường độ chịu lực và tuổi thọ kết cấu : Vết rỗ bề mặt nhỏ, các vết nứt nhỏ dưới 0,2mm, các bong vỡ nhỏ chưa hở cốt thép. - Hư hỏng loại 2 : Các hư hỏng trung bình, có thể làm giảm tuổi thọ kết cấu : Các vết nứt, vỡ bê tông, hở cốt thép; các vết rỗ mặt, ăn mòn bêtông ; Các vết nứt rộng hơn 0,2mm.Tuổi thọ của kết cấu bị suy giảm do khi bê tông bị nứt, vỡ, các tác nhân ăn mòn tiếp tục tiếp xúc và ăn mòn sâu vào các lớp bê tông bên trong, đồng thời làm rỉ mục cốt thép dẫn đến giảm tuổi thọ và khả năng chịu lực của kết cấu. - Hư hỏng loại 3 : Các hư hỏng nặng, làm giảm khả năng chịu lực của kết cấu : vết nứt nghiêng trong sườn dầm, các vết nứt nằm ngang ở chỗ tiếp giáp phần sườn dầm với phần bản cánh, các vết nứt thẳng đứng đầu và giữa dầm. Đây là các hư hỏng chứng tỏ sức chịu tải của kết cấu đã bị suy yếu, không đảm bảo khả năng chịu lực.
Các dạng hư hỏng kết cấu nhịp cầu BTCT. HỌC VIÊN : TRỊNH ĐÔNG PHƯƠNG CBHD : PGS.TS NGUYỄN NGỌC LONG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TRANG 14 Tùy vào từng thời kỳ khác nhau, các cầu được xây dựng sẽ có các đặc điểm khác nhau về tuổi thọ, thời gian khai thác, tình trạng khai thác, tải trọng - lưu lượng thiết kế - khai thác, chất lượng chế tạo và thi công vật liệu.Do vậy, mức độ hư hỏng của các dạng cầu trên cũng khác nhau. Các dạng hư hỏng kết cấu nhịp các cầu BTCT được xây dựng trước năm 1954 : Các cầu được xây dựng trong giai đoạn này là những mục tiêu bị đánh phá và chịu ảnh hưởng nặng nề của bom đạn qua các cuộc chiến tranh của đất nước. Tuổi thọ các công trình này rất cao và thời gian khai thác lâu dài, trên 70 năm ; đồng thời, lưu lượng và tải trọng khai thác hiện tại lớn hơn nhiều so với thời điểm thiết kế.
Do vậy, phần lớn các cầu này đã bị xuống cấp nghiêm trọng, xuất hiện rất nhiều hư hỏng trên kết cấu nhịp với số lượng lớn và mức độ nghiêm trọng cao, đó là các loại hư hỏng làm giảm tuổi thọ và khả năng chịu tải của kết cấu đồng thời có thể dẫn đến khả năng sụp đổ kết cấu. Hư hỏng loại 2 : - Vỡ bê tông, hở cốt thép : Bê tông bị vỡ mảng, để lộ cốt thép chủ và cốt thép đai tại vị trí đáy, thân, đầu dầm chủ đoạn gần gối hay trên dầm ngang. Nguyên nhân : + Lớp bê tông bảo vệ bị phong hóa, không đảm bảo chất lượng hoặc không đủ chiều dày. + Cốt thép bị rỉ, trương nở thể tích gây vỡ bê tông.
+ Va chạm cơ học trong quá trình thi công, sử dụng. - Vỡ bê tông tại chỗ kê gối : Đầu dầm tại vị trí gối kê bị dập, vỡ bê tông , hở cốt thép. Nguyên nhân: + Gối cầu bị hư hỏng, cập kênh, tạo ứng suất cục bộ lớn gây vỡ bê tông.