Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN Mục tiêu của chương này là trả lời cầu hỏi sau đây: CHI: Xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hiện nay ra sao và nên ứng dụng như thé nao cho phù hợp? Phần mềm toán học toán học động GeoGebra mang lại những lợi ích gì trong dạy học Toán ở trường phỏ thông? 1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học LI. Xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hiện nay 1.
Trên thể giới Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO dự bao: Công nghệ thông tin sẽ lam thay đôi nên giáo dục một cách cơ bản và toàn điện, có hệ thông va mang tính hội nhập cao vào đầu thé ki XXI. Sự bùng né và phát triển về công nghệ giáo dục sẽ tạo ra những phương thức giáo dục phi truyền thông, thúc đây mạnh mẽ sự phát triển của nên giáo dục mang tinh chuyên đôi sâu sắc vì con người (“day học cho moi người va mỗi người”, “sự gia tăng tri thức va như cầu chia sẻ”, "tập trung hóa kiến thức và địch chuyên nang lực”, “cdc yêu tô bền vững, truyền thong va sự hội nhập trong không gian giáo dục”. Quá trình nay dan đến sự can thiết phải nhìn nhận lại giá trị và ý nghĩa cua việc day học (giáo dục nói chung) dưới góc độ mỗi quan hệ giữa sự phát triển của công nghệ va những thay đổi vé ban chất của quá trình thực thi các chương trình giáo dục. Theo Nguyễn Quý Thanh, Tôn Quang Cường (2020), tiếp cận giáo dục, dạy học thông minh được nhắc đến từ những năm dau thế ki XXI và ngay càng được nghiên cứu va phát triển theo các mô hình đa dang (4C - Kĩ năng thể ki 21, CBE - dạy học phát triển năng lực, OBE - dạy học theo tiếp cận đầu ra, đạy học theo mô hình VSK - giá trị, kĩ năng, kiến thức v.
Trong đó nhân mạnh đến sự chuyên đổi từ cách day học truyền thong sang một phương thức mới theo tiếp cận công nghệ với các mô hình day học phi truyền thông. Theo Uskov, Howlet va Jain (2017), giáo dục thông minh (SMARTER Education) có “sy tích hợp toan điện công nghệ, kha năng tiếp cận va kết nỗi mọi thứ qua Internet bắt cứ lúc nào và ở đâu”. Các thành tổ được thiết lập theo một hệ thống chỉnh thé, có tac động tương hỗ, thúc day chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục. bao gom: tự định hướng (self-directed), tạo động lực (motivated), tính thích ứng cao (adaptive); các nguồn lực, tài nguyên, học liệu mở rộng (resources); dựa trên nen tảng công nghệ 7 (technology); khuyến khích sự tham gia (engagement); sự phd hợp (relevance).
Với sự trợ giúp của CNTT, giáo dục thông minh tạo ra phương thức hoàn toan khác, hướng đến sự phân hóa, cá thể hóa, cá nhân hóa cao độ. Hệ thống kết nối con người - thông tin - vật thé, máy móc tạo thành một chuỗi liên kết, thúc day quá trình chuyến đổi thiết chế giáo duc thành một hệ sinh thai đổi mới và sang tạo; cần phải thực hiện đồng bộ, toàn điện mọi mặt dựa trên nên tảng ứng dụng CNTT, bao gồm: lớp học thông minh (Smart Classroom-SmC]), môi trường thông minh (Smart Environment-SmE), người day thông minh (Smart Teacher-SmT), khuôn viên thông minh (Smart Campus-SmC), nhà trường thông minh (Smart School-SmS). Trong các nghiên cứu, việc đánh giá hoạt động giáo dục (nhà trường) thông minh được dựa trên các tiêu chí sau: sự sẵn sảng chấp nhận và thích ứng công nghệ. các chỉ số xác định về ứng dụng công nghệ, mức độ “thong minh” của các tác vu, hoạt động trong lớp học, nhà trường, trang bị hạ tang cơ sở vật chat.
Ở Việt Nam Trong bối cánh hiện nay, Dang và Nhà nước ta đã xác định “gido đục là quốc sách hàng dau.; đầu tư cho giáo đục chính là đầu tư cho sự phát triển". Đề pha hợp với xu hướng phát triển chung của xã hội trong thời ky công nghiệp hóa hiện đại hóa dat nước, nhất thiết phải đôi mới căn bản các quá trình giáo dục theo hướng ứng dụng công nghệ mới, phát huy tính tích cực chủ động của người học dé nang cao chất lượng giáo dục. Tinh thần đó đã được gợi mở và thẻ hiện xuyên suốt 7 quan điểm chi đạo về đôi mới căn bản, toàn điện giáo dục và đảo tạo trong Nghị quyết Trung ương §, khóa XI của Ban Chap hành Trung ương Đảng (Nghị quyết 29). Chỉ thị số 29/2001/CT-BGDDT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đảo tạo cũng đã nêu rõ: *Đỗi với giáo dục và đảo tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, lam thay đôi phương pháp, phương thức day va học công nghệ thông tin là phương tiện dé tien tới một xã hội học tap”.
Chương trình giáo dục phô thông môn Toán 2018 xác định trong quá trình học và áp dụng toán học, HS luôn có cơ hội sử dụng các phương tiện công nghệ, thiết bị dạy học hiện dai, đặc biệt là máy tính điện tử và máy tính cầm tay hé trợ quá trình biểu diễn, tìm tòi, khám phá kiến thức, giải quyết vấn đề toán học. Chương trình môn Toán chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt vẻ phẩm chất và năng lực của HS. nội dung giáo đục, phương pháp giáo dục va việc đánh giá kết quả giáo dục. không quy định quá chỉ tiết, dé tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình.
Chương trình bảo đảm tính én định và kha năng phát triển trong quá trình thực hiện cho phù hợp với tiền bộ khoa học - công nghệ và yêu cau cua thực tế. 8 Theo Vũ Thanh Dung (2018), công nghệ thong tin ngay cảng có vai trỏ quan trọng, hữu ich trong việc nâng cao chất lượng day và học cũng như công tác quản lí giáo dục tại các trường phô thông hiện nay. Các nhà trường đã chủ động sử dụng công nghệ thông tin như là một phương tiện tương tác giữa GV và HS trong quá trình đạy và học: HS sử dụng công nghệ thông tin như là một kênh đề phản hỏi thông tin của bài giảng đến GV; đồng thời có sự phản biện tích cực hai chiều giữa thay và trò. GV sử dụng công nghệ thông tin thiết kế và thực hiện bài giảng với sự hợp tác tích cực của HS.
GV ding phan mềm mô phỏng các thí nghiệm môn học, hoặc xây dung các clip hình anh, tiền trình của các hoạt động tự nhiên, xã hội. Các mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Toán Trong đạy học môn Toán ở trung học phỏ thông, bên cạnh những tình huống đạy học sử dụng các phương tiện truyền thống, việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ tạo ra thêm những lựa chọn và cơ hội mới, giúp HS hiểu và hình dung được một số tri thức trừu tượng, khám phá các tính chat, định lí toán học,. Nhờ ứng dụng công nghệ thông tin, môn Toán trở nên thú vị, hap dẫn hơn bao giờ hết. Bằng việc kết hợp đa phương tiện, giờ học Toán sẽ được tích cực hóa.
Các phương pháp đạy học tích cực lấy HS lảm trung tâm, giúp các em chủ động hon, tiếp thu kiến thức nhanh hơn, kích thích phát triển về kỹ năng và tư duy. Sự tương tác giữa giáo viên và HS theo đó sẽ tăng lên đáng kẻ, từ đó, khơi gợi hứng tha học Toán, giúp các em có cái nhìn đa chiều, sinh động và lĩnh hội kiến thức sâu rộng hơn. Hiện nay, định hướng về phương pháp giáo dục trong Chương trình giáo dục phỏ thông tông thê 2018 nêu rõ “các hoạt động học tập của HS bao gôm hoạt động khám pha van dé, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hanh, [.] được thực hiện với sự hỗ trợ của thiết bị dạy học, đặc biệt là công cụ tin học” (Bộ Giáo dục và Đảo tao, 2018). Trong Chương trình giáo dục phô thông môn Toán 2018, Bộ Giáo dục và Dao tạo yêu cầu; “tang cường sử đụng công nghệ thông tin và các phương tiện, thiết bị hiện đại một cách phù hợp và hiệu quả”.
Nhằm trả lời cho câu hỏi ứng dụng công nghệ thông tin như thé nao cho phù hợp với các đặc trưng cla phương pháp day học tích cực, theo Lê Thái Bao Thiên Trung (2011) việc ứng dụng trong dạy học Toán nên được chia thành 3 mức độ như sau: - Mite độ 1: Giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin chỉ dé trình chiếu và minh họa Chúng tôi cho rằng các xu hướng ứng dụng CNTT phô biến hiện nay ở trường phd thông chi ở cap độ nảy. Giáo viên thường soạn thảo va sử dụng bai trình chicu trên máy 9 vi tinh nhờ các phan mềm hỗ trợ trình chiều như Word, PowerPoint. Họ cũng tích hợp vào bài giảng điện tử của mình các hình ảnh (bất động hay động) có sẵn hay tự xây dựng từ các phần mềm day học Toán như Cabri Geometry 2D vả 3D, Geometry SketchPath, Geoplan. HS thụ động quan sát những gì giáo viên trình chiều.
Nếu chỉ đừng lại ở mức độ nảy thì CNTT chỉ đóng vai trò phương tiện hiện đại hỗ trợ cho giáo viên chứ không phải cho HS. Nhiều ý kiến cho rang sự lạm dụng CNTT như thé này có khi làm giảm khả năng tư duy trừu tượng các khải niệm toán học của HS. Hơn nữa, nếu Toán là môn học quan trọng góp phần phát triển các năng lực tư đuy logic của trẻ thì các chứng minh hay các bước dựng hình sẵn trên các slide sẽ đóng khung các năng lực này, thường được thé hiện rất phong phú qua các sản phẩm của HS. việc ứng dụng công nghệ thông tin ở mức độ 1 có thé thiên về các PPDH không tích cực.
- Mức độ 2; Giáo viên ứng dụng CNTT dé minh họa các hoạt động O mức độ nay, giáo viên sẽ soạn tháo các hoạt động trên các phan mềm. trình chiếu trước lớp, thao tác trên phần mềm và đặt câu hỏi. HS quan sát các kết quả tạo ra bởi phân mềm khi giáo viên thao tác dé trả lời câu hỏi. - Mức độ 3: HS trực tiếp thao tác trên phân mềm trong một tình hung gợi vẫn dé Ở mức độ này, giáo viên là người tô chức các tình hudng gợi van đẻ rồi ủy thác cho HS.
Khi các bài toán trong tình huéng trở thanh những van dé hay nhiệm vụ của HS, họ sẽ thực hiện các thao tác trong môi trường phần mềm dé đi tìm câu trả lời hay đưa ra phỏng đoán.