đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập. Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn. Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi HS.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo.
Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò 8 z Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trước đây GV giữ độc quyền đánh giá HS. Trong phương pháp tích cực, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn nhau.
Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS. Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với GV, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học. Một số định hướng cơ bản để phát huy tính cực, tính tự lực nhận thức của học sinh - N.
Kukharep đã đề ra các cách thức tích cực hóa hoạt động học tập của HS: Đặt ra những câu hỏi kích thích tư duy của HS; dạy theo kiểu thông báo có mạch lạc, có logic; so sánh đối chiếu; xác định những mâu thuẫn; thu hút HS tham gia vào việc thông báo; phân tích, tổng hợp; soạn sơ đồ các bảng; để HS phát biểu thắc mắc; tiến hành công tác độc lập của HS. Kharlamop đã đề ra các phương hướng lớn: Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề; tăng cường tính tích cực tư duy của HS khi GV trình bày bằng lời; 9 z cải tiến công tác tự học; tích cực hóa hoạt động học tập khi củng cố và kiểm tra kiến thức; công tác phụ đạo với HS kém. - Tác giả Đặng Vũ Hoạt đã nêu ra phương hướng sau: Giáo dục động cơ, thái độ học tập; thực hiện dạy học nêu vấn đề là phương hướng cơ bản nhất; vận dụng tri thức vào nhiều hoàn cảnh khác nhau, giải bài tập, giải quyết vấn đề bằng nhiều cách khác nhau; gắn lí luận với thực tiễn, khai thác vốn sống của HS; Phát triển ý thức tự kiểm tra, tự đánh giá của HS. Dạy học khám phá 1.
Khái niệm dạy học khám phá Dạy học khám phá là một quá trình trong đó dưới sự hướng dẫn của người dạy, người học chủ động việc học tập của bản thân, thông qua các hoạt động, người học khám phá ra một tri thức nào đó trong chương trình môn học. Trong dạy học, hoạt động khám phá gồm các kiểu: Kiểu 1: Khám phá dẫn dắt (Guided Discovery). GV đưa ra vấn đề, đáp án và dẫn dắt HS tìm cách giải quyết vấn đề đó. Kiểu 2: Khám phá hỗ trợ (Modified Discovery).
GV đưa ra vấn đề và gợi ý HS trả lời. Kiểu 3: Khám phá tự do (Free Discovery). Vấn đề, đáp án và phương pháp giải quyết do HS tự lực tìm ra. Đặc trưng của dạy học khám phá Khác với khám phá trong nghiên cứu khoa học, khám phá trong dạy học không phải là một quá trình tự phát mà có sự hướng dẫn của GV.
Trong đó, người học đóng vai trò người phát hiện còn người dạy đóng vai trò là người tổ chức hoạt động. Do vậy, dạy học khám phá có những đặc trưng sau: 10 z (1) Dạy học khám phá trong nhà trường phổ thông không nhằm phát hiện những vấn đề mà loài người chưa biết, mà chỉ giúp HS khám phá lại những tri thức có trong chương trình môn học. (2) Dạy học khám phá không chỉ làm cho HS lĩnh hội sâu sắc tri thức của môn học, mà quan trọng hơn là trang bị cho người học phương pháp suy nghĩ, cách thức phát hiện và giải quyết vấn đề mang tính độc lập, sáng tạo. (3) Dạy học khám phá thường được thực hiện thông qua các hoạt động hoặc bằng các câu hỏi, mà khi HS thực hiện và giải đáp thì sẽ xuất hiện con đường dẫn đến tri thức.
(4) Trong dạy học khám phá, các hoạt động khám phá của HS thường được tổ chức theo nhóm, mỗi thành viên đều tích cực tham gia vào các hoạt động của nhóm, qua đó HS tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri thức của bản thân là cơ sở để hình thành phương pháp tự học. Thuận lợi và thách thức của dạy học khám phá Mỗi PPDH, mỗi cách tiếp cận trong quá trình dạy học luôn có những thuận lợi và những thách thức nhất định của nó. Nắm bắt được những thuận lợi để phát huy được thế mạnh, đồng thời phát hiện những khó khăn để tìm cách khắc phục với mỗi PPDH. DHKP tập trung vào các hoạt động của trò, trò tự khám phá ra tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên nên nó có nhiều thuận lợi so với các PPDH khác.
Thuận lợi: - Phát huy được nội lực của HS, tư duy tích cực - độc lập - sáng tạo trong quá trình học tập. - Giải quyết thành công các vấn đề là động cơ trí tuệ kích thích trực tiếp lòng ham mê học tập của học sinh. Ðó chính là động lực của quá trình dạy học. 11 z - Hợp tác với bạn trong quá trình học tập, tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri thức của bản thân là cơ sở hình thành phương pháp tự học - Ðó chính là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân trong cuộc sống.
- Giải quyết các vấn đề nhỏ vừa sức của HS được tổ chức thường xuyên trong quá trình học tập, là phương thức để học sinh tiếp cận với kiểu dạy học hình thành và giải quyết các vấn đề có nội dung khái quát rộng hơn. - Ðối thoại trò với trò, trò với thầy đã tạo ra bầu không khí học tập sôi nổi, tích cực và góp phần hình thành mối quan hệ giao tiếp trong cộng đồng xã hội. Dạy học khám phá có nhiều thuận lợi, tuy nhiên GV cũng gặp không ít những thách thức khi tổ chức khám phá. Thách thức: - Để áp dụng được phương pháp này, HS phải có kiến thức, những kỹ năng cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ mang tính khám phá.
Với đối tượng HS trung bình, yếu, kém GV sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi tổ chức học tập theo DHKP. Vì vậy, với đối tượng HS này khi tổ chức khám phá GV phải khéo léo trong việc thiết kế hoạt động: Các câu hỏi GV đặt ra HS không phải tổng hợp nhiều kiến thức để trả lời; chia nhỏ hoạt động khám phá thành nhiều hoạt động nhỏ; nội dung khám phá phù hợp với năng lực, trình độ của HS. - Việc triển khai dạy học khám phá đòi hỏi GV phải có kiến thức sâu sắc, nghiệp vụ vững vàng, có sự chuẩn bị bài giảng công phu. - Trong quá trình khám phá của HS thường nảy sinh những tình huống, những khám phá ngoài dự kiến của GV, do vậy đòi hỏi sự linh hoạt trong cách sử lý tình huống của GV.
- Thời gian của việc khám phá ra tri thức mới chiếm khá nhiều thời gian trong tiến trình của bài học, nên tùy thuộc vào từng nội dung, mục tiêu của bài dạy và sự phân phối thời gian dạy học mới có thể áp dụng được. 12 z Trong một lớp học thường có nhiều loại đối tượng HS khác nhau, vì vậy GV nên phân các nhóm có đầy đủ các loại đối tượng HS để đảm bảo trình độ cân bằng giữa các nhóm và các thành viên trong nhóm được học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau. Quy trình của dạy học khám phá Qua việc tham khảo tài liệu của tác giả Nguyễn Thị Vân Hương [7], chúng tôi xin đưa ra quy trình dạy học khám phá, gồm có hai phần cơ bản: 1. Chuẩn bị Bước 1: Xác định mục đích a) Về kiến thức Xác định rõ kiến thức mới trong bài và kiến thức trọng tâm của bài.
b) Về kỹ năng Xác định rõ các kỹ năng c) Về phát triển tư duy Giáo viên định hướng các hoạt động tư duy đặc trưng cần thiết ở học sinh trong quá trình giải quyết vấn đề như hoạt động phân tích, tổng hợp hoặc là so sánh , trừu tượng hóa và khái quát hóa. Bước 2: Xác định vấn đề cần khám phá và dự kiến về thời gian Vấn đề được khám phá phải là vấn đề trọng tâm, chứa đựng thông tin mới thường được đưa ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhỏ. Vấn đề khám phá phải vừa sức với năng lực của HS và thời gian làm việc. Bước 3: Xác định việc thu thập dữ liệu cần thiết cho việc đánh giá các giả thuyết.
Các dữ liệu thu được có thể là những quan sát trực tiếp của HS đối với vấn đề được khám phá, các thông tin đọc được trong sách báo, các trải nghiệm của chính bản thân. 13 z Bước 4: Phân nhóm HS.