chương 1 Kiểm tra 45 phút 1 1. Những khó khăn thuận lợi của GV và HS khi dạy và học chương 2 * Thuận lợi: - Nội dung về biểu thức và phép biến đổi đồng nhất không chỉ được trình bày trong một nội dung cụ thể, môi trường thường xuyên mà còn xuyên suốt lồng ghép trong nội dung môn Toán. - HS ham học và có ý thức tìm hiểu tri thức và rèn luyện giải bài tập Toán. GV nhiệt tình giảng dạy, tổ chức giảng dạy theo mạch kiến thức chung trong Toán học.
11 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ * Khó khăn: Nội dung phân phối chương trình ít, tiết dành cho luyện tập ít. HS chưa tự chủ động liên kết với các kiến thức cũ và móc xích với kiến thức mới lũy thừa, mũ và lôgarit trong việc làm bài tập nên đã hiểu sai vấn đề trong nội dung dạy học chương 2 Giải Tích 12, dẫn đến làm bài tập một cách máy móc và biến đổi đồng nhất sai, dẫn đến sử dụng phép Toán sai và giải Toán sai. Trong đó HS thường thực hiện phép tính về lũy thừa, mũ và lôgarit sai; biến đổi không đồng nhất; sai bản chất khái niệm; sai trong vận dụng; sai trong việc sử dụng trong các bài Toán v. Mạch kiến thức sử dụng biểu thức và biến đổi đồng nhất trong chương trình môn Toán THPT 1.
Mạch kiến thức trong đại số giải tích Chương trình lớp 10: rút gọn và biến đổi biểu thức trong phần nhị thức bậc nhất, tam thức bậc hai để xét dấu và giải bất phương trình, giải phương trình bậc nhất, phương trình bậc hai và các phương trình quy về phương trình bậc nhất, bậc hai. Chương trình lớp 11: rút gọn và biến đổi biểu thức trong giải phương trình lượng giác, trong khai triển nhị thức New tơn, giải phương trình trong chỉnh hợp, tổ hợp. Cuối lớp 11 có sử dụng rút gọn biểu thức và phép biến đổi đồng nhất trong phần tính đạo hàm và bài toán tiếp tuyến của hàm số. Chương trình lớp 12: Rút gọn biểu thức và biến đổi đồng nhất trong bài toán khảo sát hàm số, trong hàm số mũ, lôgarit với đặc trưng là trong rút gọn và biến đổi trong phương trình mũ và phương trình lôgarit cùng với bất phương trình tương ứng.
Rút gọn và biến đổi biểu thức trong nguyên hàm tích phân và phương trình phức đơn giản. Mạch kiến thức trong hình học Ở hình hình học giải tích lớp 10, lớp 12 như phần phương trình đường tròn, Elip, hypebol và tọa độ cầu - Ở hình không gian 11, 12 trong các bài toán về tính thể tích, các bài toán tính toán có chứa biểu thức. 12 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www. Sự có mặt của biểu thức và phép biến đổi đồng nhất trong dạy học nội dung chương 2 Giải tích 12 Các biểu thức lũy thừa, mũ và lôgarit có mặt hầu hết trong các đơn vị kiến thức như: Lũy thừa, hàm số mũ và hàm số lôgarit, hàm số lũy thừa, phương trình, bất phương trình mũ và lôgarit của nội dung chương 2.
Biểu thức và phép biến đổi đồng nhất có mặt trong các bài toán rút gọn, đơn giản biểu thức, trong các bài toán tìm TXĐ của hàm số lũy thừa, hàm số mũ và hàm số lôgarit, trong các phương trình, bất phương trình mũ và lôgarit. Tình hình rèn luyện kỹ năng làm việc với biểu thức và biến đổi đồng nhất ở THPT Ở cấp học THPT, nội dung kiến thức về biểu thức và biến đổi đồng nhất cho dưới dạng ẩn tàng. HS thường xuyên làm việc với các biểu thức nguyên, biểu thức phân (biểu thức đại số), biểu thức vô tỉ nhưng do cách gọi gọn của một số GV nên HS thường gọi chung là biểu thức. HS thường xuyên làm việc với biểu thức cùng các phép biến đổi đồng nhất như: Các phép rút gọn các hạng tử đồng dạng, phép mở ngoặc, phép phân tích thành nhân tử, phép quy đồng mẫu thức của các phân thức đại số, phép phân tích chúng thành những phân thức sơ cấp, phép quy một tổng các hàm lượng giác về dạng thuận lợi cho phép lấy lôgarit (tức là biến đổi nó thành một tích) với mục đích có thể là làm cho biểu thức có dạng thuận lợi hơn cho sự tính toán bằng số hoặc cho những phép biến đổi về sau, cho phép lấy lôgarit, phép mũ hóa, phép lấy vi phân, phép lấy tích phân, giải phương trình v.v… Do phần lớn các phép biến đổi đồng nhất được học từ cấp THCS nên việc thừa nhận kỹ năng sử dụng biểu thức và rèn kỹ năng biến đổi đồng nhất thường chỉ được GV chỉ ra lỗi sai trong quá trình HS mắc lỗi khi lên bảng giải bài tập hoặc chấm bài kiểm tra hoặc khi HS biến đổi rút gọn ở một vài vấn đề giải toán trong tiết dạy của GV.
Do kỹ năng sử dụng biểu thức và phép biến đổi đồng nhất là các kỹ năng cơ sở của Toán THPT nên cả GV và HS đều cho rằng chỉ cần kinh nghiệm giải toán là đủ, HS chủ quan nên dẫn đến sai lầm khi giải toán sau này. 13 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www. Kết luận chƣơng 1 Chương 1 nêu lên một số vấn đề về biểu thức và phép biến đổi đồng nhất trong Toán học nói chung và biểu thức lũy thừa, mũ và lôgarit cùng các phép biến đổi đồng nhất trên các biểu thức đó nói riêng. Nêu một số thực tiễn về dạy học nội dung chương 2 Giải tích 12 và tình hình rèn luyện kỹ năng năng làm việc với biểu thức và biến đổi đồng nhất ở trường THPT.
Bên cạnh đó là các vấn đề lí thuyết về kỹ năng trong dạy học Toán và những kỹ năng thường sử dụng trong dạy học chương 2 Giải tích 12. 14 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ Chƣơng 2 TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG ĐỂ RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỬ DỤNG BIỂU THỨC VÀ BIẾN ĐỔI ĐỒNG NHẤT TRONG DẠY HỌC CHƢƠNG 2 GIẢI TÍCH LỚP 12 Ở TRƢỜNG THPT 2. Định hƣớng * Định hướng 1. Để rèn luyện kỹ năng sử dụng biểu thức và phép biến đổi đồng nhất đầu tiên cần chỉ ra các kỹ năng cần có và có thể thực hiện.
Đối với từng kỹ năng, chúng tôi phân tích làm rõ hoạt động gắn liền với từng kỹ năng đó. Minh họa thông qua các tình huống cho từng kỹ năng trong đó có hoạt động tổ chức cho học sinh cho học sinh phát hiện và sửa chữa những sai lầm. Tổ chức các hoạt động để rèn luyện kỹ năng sử dụng biểu thức và biến đổi đồng nhất trong dạy học chƣơng 2 Giải tích (cơ bản) lớp 12 THPT 2. Kỹ năng nhận dạng và thể hiện Theo Nguyễn Bá Kim [15], có thể thấy nhận dạng và thể hiện là hai dạng hoạt động theo chiều trái ngược nhau, nhưng lại gắn bó và liên hệ chặt chẽ với nhau.
Trong học Toán, HS thường xuyên phải tiến hành các hoạt động này đối với khái niệm, định lý, quy tắc, phương pháp và dạng toán. Khi giảng dạy một nội dung toán học, việc tổ chức hoạt động nhận dạng và thể hiện giúp HS khắc sâu hơn về kiến thức đã học, làm nền tảng cho sự móc nối với các kiến thức liên quan và giúp HS hoàn hiện hơn về tư duy Toán học. Trong nội dung kiến thức chương 2 Giải tích lớp 12 gồm các kiến thức về lũy thừa, hàm số lũy thừa, hàm số mũ và hàm số lôgarit, phương trình, bất phương trình mũ và lôgarit có khá nhiều bài toán đa dạng và cũng dễ gây nhầm lẫn cho HS trong quá trình học, đặc biệt là các em gặp không ít khó khăn ngay từ hoạt động nhận dạng và thể hiện các kiến thức có liên quan. 15 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ HS đã được tiếp xúc với biểu thức siêu việt là biểu thức lượng giác, việc làm việc với phép toán siêu việt, hàm số siêu việt và phương trình siêu việt có khá nhiều khó khăn khi tiếp cận với nội dung của nó.
Để giúp HS khỏi bỡ ngỡ và có những kỹ năng toán học cơ bản trong nội dung của chương 2 Giải tích 12, bước đầu chúng ta cần đưa hoạt động nhận dạng và thể hiện vào trong giảng dạy. Sau đây là một số vấn đề trình bày về hoạt động nhận dạng và thể hiện các kiến thức về biểu thức lũy thừa, biểu thức mũ và biểu thức lôgarit cùng các phép biến đổi đồng nhất thực hiện với trên các biểu thức đó. Để tổ chức cho HS tập luyện nhận dạng các khái niệm, tính chất và các phép biến đổi nói trên, chúng ta có thể tiến hành: - Chọn lọc và đưa ra cho HS thấy những đối tượng cần quan tâm là các loại biểu thức trên, phép biến đổi, phép biến đổi đồng nhất, phương pháp giải một số dạng toán về lũy thừa, mũ và lôgarit. - Yêu cầu HS quan sát, phân tích và nhận ra xem chúng thuộc vào khái niệm, tính chất, phương pháp giải toán nào trong các kiến thức về lũy thừa, mũ và lôgarit bằng cách đối chiếu với định nghĩa, tính chất, định lí của chúng.
- HS nhận dạng được đối tượng khi mà các em biết kiểm tra từng yếu tố (điều kiện nêu ra trong định nghĩa khái niệm, trong giả thiết của định lý, nội hàm của quy tắc v. Ở đây GV cần giúp cho HS tiến hành nhận dạng theo một quy trình. Nhận dạng và thể hiện các kiến thức về biểu thức lũy thừa và phép biến đổi đồng nhất trong các bài toán liên quan khi dạy học nội dung chương 2 Trong chương trình lớp 12, lũy thừa đã được mở rộng với số mũ nguyên, số mũ hữu tỉ, số mũ vô tỉ. Lúc này các bài toán được mở rộng hơn với các tính chất của lũy thừa với số mũ thực và có những bài toán phức tạp hơn về biến đổi biểu thức lũy thừa với số mũ hữu tỉ.
Bởi vậy việc nắm chắc định nghĩa, khái niệm và phân biệt được các tính chất của các dạng lũy thừa sẽ giúp HS chủ 16 Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.vn/ động hơn khi xây dụng và củng cố các kiến thức đã học. Để phục vụ cho những bài toán khó hơn, HS cần vận dụng đúng và đủ những tri thức cơ bản đã học. Bên cạnh đó để nhìn nhận các kiến thức dưới nhiều góc độ và vận dụng vào giải toán, HS cần kết hợp chặt chẽ với các phép biến đổi, trong đó có phép biến đổi đồng nhất. Các biểu thức liên hệ chặt chẽ và thể hiện dưới nhiều dạng thông qua các phép biến đổi đồng nhất đã học.