Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Thiết kế dạy học nói-nghe cho học sinh lớp 6 trên ứng dụng Flipgrid Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực 1.1 Năng lực và phân loại năng lực a) Năng lực Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu; đặc biệt là các nghiên cứu giáo dục. Theo một số tài liệu nghiên cứu về năng lực đã chỉ ra rằng “năng lực” là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao. Theo quan niệm của tâm lý học thì “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính cá nhân con người, đáp ứng được những yêu cầu của hoạt động bảo đảm cho hoạt động đó nhanh chóng đạt kết quả cao”.
Trong Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp: “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. - Năng lực là sự kết hợp giữa các tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của người học. [11] - Năng lực là kết quả của việc huy động, tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. [11] - Năng lực được hình thành, phát triển thông qua các hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn.
[11] 9 Còn Chương trình tổng thể lại giải thích khái niệm năng lực: “Năng lực có thể định nghĩa như một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một các phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của học sinh; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác”.1 Các thành tố của năng lực Tóm lại, các năng lực của người học đều hình thành được qua quá trình rèn luyện và học hỏi. Vì vậy, dạy học phát triển năng lực là quá trình người dạy cần xây dựng, tổ chức, phối hợp nhịp nhàng với người học, đáp ứng các yêu cầu, các mục tiêu cần đạt của môn học; chú trọng tập trung đối chiều vào kết quả đầu ra của quá trình, kết quả đánh giá mức độ năng lực đạt được của người học thế nào sau khi kết thúc một quá trình học. b) Phân loại năng lực Theo tâm lý học thì, năng lực có các dạng như năng lực chung và năng lực chuyên môn.
Còn trong CTGDPT 2018 cũng chỉ rõ việc hình thành và phát triển cho HS những năng lực cốt lõi là năng lực chung và năng lực đặc thù.2 Phân loại năng lực theo Tâm lý học và Chương trình GDPT 2018 1. Dạy học theo mục tiêu phát triển năng lực CTGDPT 2018 với định hướng dạy học phát triển năng lực đã cho thấy một số điểm giống và khác biệt so với chương trình 2006 hiện hành. Bảng so sánh điểm giống và khác nhau của chương trình 2006 và chương trình 2018: Bảng 1. Bảng so sánh Chương trình 2006 với Chương trình 2018 [12] Như vậy có thể thấy CT2018 có ưu điểm rõ ràng là chương trình xác định rõ mục tiêu phát triển NL nhằm khắc phục những hạn chế của chương trình dạy 11 học nội dung để góp phần đáp ứng được những yêu cầu của xã hội đang thay đổi và phát triển mạnh mẽ từng ngày.2 Dạy học theo chuẩn kỹ năng Đọc – Viết – Nói - Nghe chương trình 2018 1.1 Yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 về dạy học Ngữ văn bậc THCS theo mục tiêu phát triển năng lực Theo công văn 3175 của Bộ GDĐT về triển khai kế hoạch dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn, đội ngũ giáo viên Ngữ văn cần tăng cường hơn nữa việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập môn Ngữ văn, dành nhiều thời gian cho các hoạt động thực hành, vận dụng, trình bày, thảo luận để rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói, nghe và cảm thụ thẩm mĩ theo yêu cầu, mức độ với từng lớp học, cấp học.
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần giao nhiệm vụ học tập rõ ràng, phù hợp với khả năng của học sinh, nêu cụ thể các yêu cầu về sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành, chú trọng kiểm tra, đánh giá, hỗ trợ, động viên học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập. Nâng cao kỹ năng nghe và nói: Chương trình khuyến khích việc phát triển khả năng nghe và nói của học sinh thông qua các hoạt động giao tiếp trong lớp học. Học sinh được đào tạo để lắng nghe và hiểu các thông tin, ý kiến và lập luận, đồng thời thể hiện ý kiến, quan điểm và lập luận của mình một cách rõ ràng và sáng tạo. a) Yêu cần đạt về năng lực đặc thù - Giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất tốt đẹp đã được hình thành ở tiểu học; nâng cao và mở rộng yêu cầu phát triển về phẩm chất với các biểu hiện cụ thể như: biết tự hào về lịch sử dân tộc và văn học dân tộc; có ước mơ và khát vọng, có tinh thần tự học và tự trọng, có ý thức công dân, tôn trọng pháp luật.
[2] - Tiếp tục phát triển các năng lực chung, năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học đã hình thành ở cấp tiểu học với các yêu cầu cần đạt cao hơn. Phát triển năng lực ngôn ngữ với yêu cầu: phân biệt được các loại văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản thông tin; đọc hiểu được cả nội dung tường minh và nội dung hàm ẩn của các loại văn bản; viết được đoạn và bài văn tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, nhật dụng hoàn chỉnh, mạch lạc, logic, đúng quy trình và có kết 12 hợp các phương thức biểu đạt; nói dễ hiểu, mạch lạc; có thái độ tự tin, phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp; nghe hiểu với thái độ phù hợp. [2] Phát triển năng lực văn học với yêu cầu: phân biệt được các thể loại truyện, thơ, kí, kịch bản văn học và một số tiểu loại cụ thể; nhận biết được đặc điểm của ngôn ngữ văn học, nhận biết và phân tích được tác dụng của những yếu tố hình thức và biện pháp nghệ thuật gắn với mỗi thể loại văn học; nhận biết được giá trị biểu cảm, giá trị nhận thức, giá trị thẩm mĩ; phân tích được tính hình tượng, nội dung và hình thức của tác phẩm văn học; có thể tạo ra được một số sản phẩm có tính văn học. b) Yêu cầu cần đạt ở cấp trung học cơ sở - Năng lực ngôn ngữ Biết vận dụng kiến thức tiếng Việt cùng với những trải nghiệm và khả năng suy luận của bản thân để hiểu văn bản; biết đọc văn bản theo kiểu, loại; hiểu được nội dung tường minh và hàm ẩn của văn bản.
[2] Nhận biết và bước đầu biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản; biết so sánh văn bản này với văn bản khác, liên hệ với những trải nghiệm cuộc sống của cá nhân; từ đó có cách nhìn, cách nghĩ và những cảm nhận riêng về cuộc sống, làm giàu đời sống tinh thần. Ở lớp 6 và lớp 7: viết được bài văn tự sự, miêu tả và biểu cảm; bước đầu biết viết bài văn nghị luận, thuyết minh, nhật dụng. Ở lớp 8 và lớp 9: viết được các bài văn tự sự, nghị luận và thuyết minh hoàn chỉnh, theo đúng các bước và có kết hợp các phương thức biểu đạt. [2] Viết văn bản tự sự tập trung vào yêu cầu kể lại một cách sáng tạo những câu chuyện đã đọc; những điều đã chứng kiến, tham gia; những câu chuyện tưởng tượng có kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm; văn bản miêu tả với trọng tâm là tả cảnh sinh hoạt (tả hoạt động); văn bản biểu cảm đối với cảnh vật, con người và thể hiện cảm nhận về tác phẩm văn học; biết làm các câu thơ, bài thơ, chủ yếu để nhận biết đặc điểm một số thể thơ quen thuộc; viết được văn bản nghị luận về những vấn đề cần thể hiện suy nghĩ và chủ kiến cá nhân, đòi hỏi những thao tác lập luận tương đối đơn giản, bằng chứng dễ tìm kiếm; viết được văn bản thuyết minh về 13 những vấn đề gần gũi với đời sống và hiểu biết của học sinh với cấu trúc thông dụng; điền được một số mẫu giấy tờ, soạn được một số văn bản nhật dụng như biên bản ghi nhớ công việc, thư điện tử, văn bản tường trình, quảng cáo và bài phỏng vấn.
Viết đúng quy trình, biết cách tìm tài liệu để đáp ứng yêu cầu viết văn bản; có hiểu biết về quyền sở hữu trí tuệ và biết cách trích dẫn văn bản. Trình bày dễ hiểu các ý tưởng và cảm xúc; có thái độ tự tin khi nói trước nhiều người; sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ thích hợp khi nói; kể lại được một cách mạch lạc câu chuyện đã đọc, đã nghe; biết chia sẻ những cảm xúc, thái độ, trải nghiệm, ý tưởng của mình đối với những vấn đề được nói đến; thảo luận ý kiến về vấn đề đã đọc, đã nghe; thuyết minh về một đối tượng hay quy trình; biết cách nói thích hợp với mục đích, đối tượng và ngữ cảnh giao tiếp; biết sử dụng hình ảnh, kí hiệu, biểu đồ,. để trình bày vấn đề một cách hiệu quả. Nghe hiểu với thái độ phù hợp và tóm tắt được nội dung; nhận biết và bước đầu đánh giá được lí lẽ, bằng chứng mà người nói sử dụng; nhận biết được cảm xúc của người nói; biết cách phản hồi những gì đã nghe một cách hiệu quả.
- Năng lực văn học Nhận biết và phân biệt được các loại văn bản văn học: truyện, thơ, kịch, kí và một số thể loại tiêu biểu cho mỗi loại; phân tích được tác dụng của một số yếu tố hình thức nghệ thuật thuộc mỗi thể loại văn học; hiểu nội dung tường minh và hàm ẩn của văn bản văn học.