Luận văn thạc sĩ vnu ued sử dụng phần mềm cabri ii plus trong dạy học lượng giác ở trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh

Luận văn thạc sĩ VNU UED nghiên cứu ứng dụng phần mềm Cabri II Plus trong dạy học lượng giác, nâng cao hoạt động học tập cho học sinh trung học.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Toán học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2008

139
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu

0.3. Mục tiêu nghiên cứu

0.4. Câu hỏi nghiên cứu

0.5. Khách thể nghiên cứu và đối tượng khảo sát

0.6. Phạm vi nghiên cứu

0.7. Giả thuyết khoa học

0.8. Phương pháp nghiên cứu

0.9. Những đóng góp của luận văn

0.10. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Định hướng đổi mới PPDH ở THPT hiện nay

1.2. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi và hoạt động học tập của HS THPT

1.3. Tích cực hoá hoạt động của HS trong học tập

1.3.1. Khái niệm về tính tích cực

1.3.2. Dấu hiệu nhận biết tính tích cực

1.3.3. Một số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của HS THPT

1.4. PPDH tích cực và các dấu hiệu đặc trưng của nó

1.5. Thực trạng dạy học Lượng giác và sử dụng CNTT ở THPT hiện nay

1.5.1. Thực trạng dạy học Lượng giác ở THPT hiện nay

1.5.2. Thực trạng sử dụng CNTT trong dạy học ở trường THPT hiện nay

1.6. Lý luận về dạy học khái niệm toán học

1.7. Sử dụng phần mềm Cabri II Plus trong dạy học

1.7.1. Lịch sử hình thành phần mềm Cabri II Plus

1.7.2. Đặc điểm phần mềm Cabri II Plus

1.7.3. Sử dụng phần mềm Cabri II Plus trong dạy học theo quan điểm tương tác

1.8. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA THPT NĂM 2005 PHẦN LƯỢNG GIÁC

2.1. Chương trình Lượng giác ở THPT năm 2005

2.1.1. Nguyên tắc xây dựng chương trình ở THPT

2.1.2. Mục tiêu của môn Toán ở THPT

2.1.3. Mục tiêu của phần Lượng giác trong chương trình toán THPT

2.2. Phân tích sách giáo khoa năm 2005

2.2.1. Lượng giác lớp 10

2.2.2. Lượng giác lớp 11

2.2.3. Đề xuất các giả thuyết giải quyết khó khăn trong dạy học lượng giác

2.3. Một số vấn đề về sử dụng Cabri II Plus trong dạy học

2.3.1. Qui trình triển khai sử dụng Cabri II Plus trong dạy học Lượng giác ở THPT

2.3.2. Các phương án khai thác Cabri II Plus

2.3.3. Thời lượng sử dụng Cabri II Plus trong các giờ lên lớp

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG MỘT SỐ TÌNH HUỐNG DẠY HỌC ĐIỂN HÌNH VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Sử dụng Cabri II Plus trong một số tình huống dạy học điển hình Lượng giác ở THPT

3.1.1. Sử dụng Cabri II Plus trong dạy học các khái niệm Lượng giác

3.1.2. Sử dụng Cabri II Plus trong dạy học khảo sát sự biến thiên của hàm số lượng giác

3.1.3. Sử dụng Cabri II Plus trong dạy học vẽ đồ thị hàm số lượng giác

3.2. Tổ chức thực nghiệm sư phạm

3.2.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

3.2.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

3.2.3. Lựa chọn đối tượng thực nghiệm sư phạm

3.2.4. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.2.5. Kết quả thực nghiệm sư phạm

3.2.6. Kết luận thực nghiệm sư phạm

3.3. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Phụ lục 1

Phụ lục 2. Phụ lục 2

Tóm tắt

I. Tổng quan về ứng dụng phần mềm Cabri II Plus trong dạy học lượng giác

Phần mềm Cabri II Plus đã trở thành một công cụ hữu ích trong việc dạy học lượng giác tại trung học phổ thông. Với khả năng mô phỏng hình học động, phần mềm này giúp học sinh hình dung và hiểu rõ hơn về các khái niệm lượng giác phức tạp. Việc tích hợp công nghệ vào giảng dạy không chỉ nâng cao hiệu quả học tập mà còn kích thích sự sáng tạo và tư duy phản biện của học sinh.

1.1. Đặc điểm nổi bật của phần mềm Cabri II Plus

Cabri II Plus là phần mềm hình học động, cho phép người dùng tạo ra và tương tác với các hình ảnh hình học. Đặc điểm nổi bật của phần mềm này là khả năng mô phỏng các khái niệm lượng giác một cách trực quan, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và hiểu bài học hơn.

1.2. Lợi ích của việc sử dụng Cabri II Plus trong dạy học

Việc sử dụng phần mềm Cabri II Plus trong dạy học lượng giác mang lại nhiều lợi ích. Học sinh có thể thực hành và trải nghiệm trực tiếp các khái niệm lượng giác, từ đó phát triển kỹ năng tư duy và giải quyết vấn đề. Ngoài ra, phần mềm còn giúp giáo viên dễ dàng truyền đạt kiến thức một cách sinh động và hấp dẫn.

II. Thách thức trong việc dạy học lượng giác tại trung học phổ thông

Dạy học lượng giác tại trung học phổ thông hiện nay gặp nhiều thách thức. Học sinh thường cảm thấy khó khăn trong việc tiếp thu các khái niệm trừu tượng và phức tạp. Thời gian học tập hạn chế cũng là một yếu tố cản trở việc truyền đạt kiến thức hiệu quả.

2.1. Khó khăn trong việc truyền đạt kiến thức lượng giác

Nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc hiểu và áp dụng các công thức lượng giác. Điều này dẫn đến việc học sinh không hứng thú với môn học, ảnh hưởng đến kết quả học tập.

2.2. Thiếu công cụ hỗ trợ trong dạy học

Nhiều giáo viên vẫn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống, thiếu các công cụ hỗ trợ hiện đại như phần mềm Cabri II Plus. Điều này làm giảm tính tương tác và sự hứng thú của học sinh trong quá trình học tập.

III. Phương pháp sử dụng phần mềm Cabri II Plus trong dạy học lượng giác

Để phát huy hiệu quả của phần mềm Cabri II Plus trong dạy học lượng giác, giáo viên cần áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực. Việc tổ chức các hoạt động học tập tương tác sẽ giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách hiệu quả hơn.

3.1. Tổ chức hoạt động học tập tương tác

Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động nhóm, cho phép học sinh cùng nhau khám phá và giải quyết các bài toán lượng giác thông qua phần mềm Cabri II Plus. Điều này không chỉ giúp học sinh học hỏi lẫn nhau mà còn phát triển kỹ năng làm việc nhóm.

3.2. Thiết kế bài giảng sinh động với Cabri II Plus

Giáo viên nên thiết kế các bài giảng sinh động, sử dụng phần mềm Cabri II Plus để minh họa các khái niệm lượng giác. Việc này giúp học sinh dễ dàng hình dung và ghi nhớ kiến thức hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về Cabri II Plus

Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng phần mềm Cabri II Plus trong dạy học lượng giác đã mang lại những kết quả tích cực. Học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức tốt hơn mà còn phát triển kỹ năng tư duy phản biện.

4.1. Kết quả thực nghiệm sư phạm

Các cuộc thực nghiệm cho thấy học sinh sử dụng phần mềm Cabri II Plus có kết quả học tập cao hơn so với những học sinh học theo phương pháp truyền thống. Điều này chứng tỏ hiệu quả của việc tích cực hóa hoạt động học tập.

4.2. Phản hồi từ học sinh và giáo viên

Học sinh và giáo viên đều đánh giá cao việc sử dụng phần mềm Cabri II Plus trong dạy học. Học sinh cảm thấy hứng thú hơn với môn học, trong khi giáo viên dễ dàng truyền đạt kiến thức một cách sinh động.

V. Kết luận và tương lai của việc ứng dụng Cabri II Plus trong dạy học

Việc ứng dụng phần mềm Cabri II Plus trong dạy học lượng giác tại trung học phổ thông không chỉ giúp nâng cao hiệu quả học tập mà còn mở ra hướng đi mới cho giáo dục. Tương lai của việc ứng dụng công nghệ trong dạy học sẽ ngày càng phát triển.

5.1. Tương lai của dạy học lượng giác với công nghệ

Công nghệ sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc dạy học lượng giác. Việc phát triển các phần mềm hỗ trợ học tập sẽ giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.

5.2. Khuyến khích giáo viên áp dụng công nghệ trong giảng dạy

Giáo viên cần được khuyến khích và đào tạo để áp dụng công nghệ vào giảng dạy. Việc này không chỉ nâng cao chất lượng dạy học mà còn giúp học sinh phát triển toàn diện hơn.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued sử dụng phần mềm cabri ii plus trong dạy học lượng giác ở trung học phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Định hướng đổi mới PPDH ở THPT hiện nay Theo tác giả Đặng Xuân Hải [15, tr.319] quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn và có thể minh hoạ bằng sơ đồ sau: Nội dụng dạy học Dạy Học Truyền đạt Lĩnh hội Cộng tác Điều khiển Tự điều khiển Hình 1.1 Quá trình dạy học Theo sơ đồ trên thì dạy và học là hai mặt của một quá trình, luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập vào nhau thông qua HĐ cộng tác nhằm tạo cho ngƣời học khả năng phát triển trí tuệ, góp phần hoàn thiện nhân cách. Dạy là sự điều khiển tối ƣu hoá quá trình ngƣời học chiếm lĩnh nội dung học, trong và bằng cách đó phát triển và hình thành nhân cách (năng lực và phẩm chất). Học là quá trình tự giác, tích cực tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học (nội dung học) dƣới sự điều khiển sƣ phạm của GV. Trong quá trình dạy học, nội dung dạy học lại nằm trong mối liên hệ hữu cơ với các thành phần cơ bản của quá trình dạy học: Mục đích-Nội dung- Phƣơng pháp.

Vì vậy, muốn đổi mới PPDH ta cần xét trên quan điểm hệ thống, coi PPDH là một thành tố của quá trình dạy học. Theo Nguyễn Bá Kim [14, tr.114] mỗi nội dung dạy học đều liên hệ với những HĐ nhất định. Đó là: những HĐ đã đƣợc tiến hành trong lịch sử hình thành và ứng dụng những tri thức đƣợc bao hàm trong nội dung dạy học (cũng chính là những HĐ để ngƣời học có thể kiến tạo và ứng dụng những tri thức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong nội dung đó); HĐ củng cố tri thức; HĐ rèn luyện các kĩ năng và hình thành những thái độ liên quan. Vì vậy, nếu trong một nội dung dạy học, GV phát hiện đƣợc những HĐ nhƣ vậy tức là đã vạch đƣợc một con đƣờng để ngƣời học chiếm lĩnh nội dung đó và đạt đƣợc những mục tiêu dạy học khác; đồng thời các HĐ đó cũng là sự cụ thể hoá mục tiêu dạy học, chỉ ra cách thức kiểm tra xem mục tiêu dạy học có đạt đƣợc hay không và đạt đến mức độ nào.

Cho nên, điều căn bản của PPDH là khai thác những HĐ nhƣ trên tiềm tàng trong mỗi nội dung để đạt đƣợc mục tiêu dạy học. Từ sự phân tích trên, ta thấy rằng định hƣớng đổi mới PPDH ở THPT hiện nay phải là “tổ chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo” [14, tr. Định hƣớng này có thể gọi tắt là “học tập trong hoạt động”, nó hoàn toàn phù hợp với luận điểm cơ bản của giáo dục học cho rằng con ngƣời phát triển trong HĐ và học tập diễn ra trong HĐ. Định hƣớng đổi mới trên đƣợc cụ thể hoá trong [14] qua những ý tƣởng chính sau: 1.1 Xác lập vị trí chủ thể của người học, bảo đảm tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của HĐ học tập được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu Trong quá trình dạy học, HS là chủ thể kiến tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ chứ không phải là nhân vật bị động, hoàn toàn làm theo lệnh của GV.

Vai trò chủ thể của HS đƣợc khẳng định trong quá trình họ học tập trong hoạt động và bằng hoạt động của bản thân mình. Tính tự giác, tích cực và chủ động của HS có thể đạt đƣợc bằng cách tổ chức cho HS học tập thông qua những HĐ đƣợc hƣớng đích, gợi động cơ, để chuyển hoá nhu cầu của xã hội thành nhu cầu nội tại của bản thân mình. Tuỳ vào mục tiêu và hoàn cảnh cụ thể của HĐ dạy học, ta có thể tổ chức cho HS HĐ độc lập hoặc trong giao lƣu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Tri thức được cài đặt trong các tình huống có dụng ý sư phạm Tri thức là đối tƣợng của HĐ học tập.

Để dạy một tri thức nào đó, thầy giáo thƣờng không thể trao ngay cho HS điều thầy muốn dạy; cách làm tốt nhất là cài đặt tri thức đó vào những tình huống thích hợp để HS chiếm lĩnh nó thông qua HĐ tự giác, tích cực và sáng tạo của bản thân. Mặt khác, theo Nguyễn Hữu Châu “người học không học bằng cách thu nhận một cách thụ động những tri thức do người khác truyền cho một cách áp đặt, mà bằng cách đặt mình vào trong một môi trường tích cực, phát hiện ra vấn đề, giải quyết vấn đề bằng cách đồng hoá hay điều ứng những kiến thức và kinh nghiệm đã có cho thích ứng với tình huống mới, từ đó xây dựng nên những hiểu biết mới cho bản thân” [4, tr. Vì vậy, điều quan trọng là thiết lập những tình huống có dụng ý sƣ phạm để ngƣời học học tập trong HĐ, học tập bằng thích nghi thông qua một môi trƣờng học tập tích cực.3 Dạy cách học và dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học Kho tàng văn hoá của nhân loại là vô tận, vì vậy để có thể sống và HĐ suốt đời thì phải dạy cho HS khả năng tự học. Cách học và khả năng tự học chỉ có đƣợc khi ngƣời học là chủ thể của quá trình dạy học, tự họ HĐ để đáp ứng nhu cầu của xã hội đã chuyển hoá thành nhu cầu của chính bản thân họ.4 Tự tạo và khai thác những phương tiện dạy học để tiếp nối và gia tăng sức mạnh của con người PTDH giúp thiết lập những tình huống có dụng ý sƣ phạm, tổ chức những hoạt động giao lƣu của thầy và trò.

GV cần biết khai thác thế mạnh của các phƣơng tiện sẵn có để phục vụ công việc dạy học của mình, đồng thời có thể tự tạo một số phƣơng tiện, khắc phục khó khăn, không trông chờ vào sự tài trợ của nhà nƣớc. Trong thời đại hiện nay, các kĩ thuật đồ hoạ nâng cao cho phép mô phỏng nhiều quá trình, hiện tƣợng trong tự nhiên xã hội mà con ngƣời không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trƣờng; với công nghệ tri LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức có thể tiếp nối trí thông minh của con ngƣời, thực hiện những công việc mang tính chất trí tuệ cao của những chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau; với môi trƣờng đa phƣơng tiện đƣợc tạo nên từ những hình ảnh trong các phƣơng tiện nhƣ băng video, camera kết hợp với âm thanh, văn bản, biểu đồ, đƣợc trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn có thể giúp đạt hiệu quả tối đa cho một quá trình học tập đa giác quan; với những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng đƣợc kết nối với nhau và với ngƣời sử dụng thông qua những mạng máy tính kể cả Internet. Tất cả những điều đó đã tạo nên những điều kiện hết sức thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để cho HS học tập trong HĐ và bằng HĐ tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo, đƣợc thực hiện độc lập hoặc trong giao lƣu.5 Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của bản thân người học Muốn tổ chức cho HS học tập tự giác phải gắn liền với việc tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của bản thân ngƣời học.6 Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách là người thiết kế, uỷ thác, điều khiển và thể chế hoá Hoạt động hoá ngƣời học dễ dẫn đến việc ngộ nhận về sự giảm sút vai trò của ngƣời thầy. Tuy nhiên điều đó không đúng.

Một mặt cần phải hiểu rằng hoạt động hoá ngƣời học hay việc xác lập vị trí chủ thể của ngƣời học không hề làm suy giảm mà còn nâng cao vai trò, trách nhiệm của ngƣời thầy. Một câu tục ngữ vẫn đƣợc nhắc đến là “Không thầy đố mày làm nên”. Mặt khác, sẽ là bảo thủ nếu cho rằng tính chất, vai trò của ngƣời thầy vẫn nhƣ xƣa. Thầy giáo không còn là nguồn phát tin duy nhất, ngƣời ra lệnh một cách khiên cƣỡng và không phải là ngƣời HĐ chủ yếu trong lớp học.

Vai trò, trách nhiệm của thầy bây giờ là ở chỗ khác, quan trọng hơn, nặng nề hơn và cũng tế nhị hơn. Cụ thể là: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thiết kế: lập kế hoạch, chuẩn bị quá trình dạy học về mặt mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, phƣơng tiện và hình thức tổ chức. - Uỷ thác: biến ý đồ của thầy thành nhiệm vụ học tập tự nguyện tự giác của trò, chuyển giao cho trò không phải những tri thức có sẵn mà là những tình huống để trò HĐ và thích nghi. - Điều khiển: kể cả sự điều khiển về tâm lý, bao gồm sự động viên, hƣớng dẫn, trợ giúp và đánh giá.

- Thể chế hoá: xác nhận những kiến thức mới phát hiện, đồng nhất hoá những kiến thức riêng lẻ mang màu sắc cá thể, phụ thuộc hoàn cảnh và thời gian của từng HS thành tri thức khoa học của xã hội, tuân thủ chƣơng trình về mức độ yêu cầu, cách thức diễn đạt và định vị tri thức mới trong hệ thống tri thức đã có, hƣớng dẫn vận dụng và ghi nhớ hoặc giải phóng khỏi trí nhớ nếu không cần thiết. Những ý tƣởng trong định hƣớng đổi mới trên đây sẽ làm nền tảng cho chúng tôi khi nghiên cứu tích cực hóa hoạt động học tập của HS trong học tập lƣợng giác.2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi và hoạt động học tập của HS THPT Nghiên cứu đặc điểm tâm lý của lứa tuổi HS THPT trong tài liệu Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sƣ phạm [13] chúng tôi nhận thấy: HS THPT đang ở giai đoạn đầu của tuổi thanh niên. Cùng với sự trƣởng thành về mặt thể lực, các HĐ của thanh niên càng phong phú và phức tạp, chúng không chỉ mở rộng về số lƣợng và phạm vi mà còn biến đổi cả về chất lƣợng. Trong học tập, nội dung và tính chất của các HĐ của thanh niên HS khác rất nhiều so với HĐ của thiếu niên.

“Sự khác nhau cơ bản không phải chỉ ở chỗ nội dung học tập ngày một sâu hơn, mà là ở chỗ HĐ học tập của thanh niên HS đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn nhiều” [13, tr. Do đó HS khó chấp nhận cách dạy học thụ động, nhồi nhét LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiến thức; đồng thời đặc điểm này cũng đòi hỏi HS cần phải phát triển tƣ duy lý luận để nắm đƣợc chƣơng trình một cách sâu sắc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Ứng dụng phần mềm Cabri II Plus trong dạy học lượng giác tại trung học phổ thông" trình bày những lợi ích của việc sử dụng phần mềm Cabri II Plus trong việc giảng dạy lượng giác cho học sinh trung học phổ thông. Tác giả nhấn mạnh rằng phần mềm này không chỉ giúp học sinh hình dung rõ hơn các khái niệm lượng giác mà còn tạo điều kiện cho việc khám phá và thực hành thông qua các mô hình trực quan. Việc áp dụng công nghệ này trong giảng dạy không chỉ nâng cao sự hứng thú của học sinh mà còn cải thiện khả năng tư duy và giải quyết vấn đề của các em.

Để mở rộng thêm kiến thức về ứng dụng công nghệ trong giáo dục, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện hoằng hoá tỉnh thanh hoá theo hướng chuyển đổi số", nơi đề cập đến việc quản lý và ứng dụng công nghệ trong giáo dục. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục ảnh hưởng của phương pháp dạy học theo vấn đề đến kiến thức khái niệm của học sinh về chủ đề phân tích" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp dạy học hiện đại. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện phong điền thành phố cần thơ", tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường trung học cơ sở.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về việc ứng dụng công nghệ trong giáo dục.