Tổng quan nghiên cứu

Tài nguyên nước giữ vai trò thiết yếu đối với hệ sinh thái và đời sống kinh tế - xã hội, song đang chịu sức ép nghiêm trọng từ các hoạt động nhân sinh. Lưu vực sông Cầu sở hữu tổng diện tích tự nhiên 6.030 km² cùng mạng lưới sông ngòi phân nhánh dài khoảng 1.600 km, bắt nguồn từ núi Vạn On ở độ cao 1.175 m thuộc tỉnh Bắc Kạn. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất từ năm 2010, nguồn nước thượng nguồn sông Cầu đối mặt với nguy cơ suy giảm lưu lượng mùa khô và gia tăng ô nhiễm phú dưỡng.

Theo Điều 58 và Điều 64 của Luật Tài nguyên nước, phương thức quản trị nguồn nước tại Việt Nam đang có bước chuyển dịch quan trọng từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản lý tổng hợp theo lưu vực sông. Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Bản đồ, viễn thám và hệ thông tin địa lý của tác giả Phạm Xuân Cảnh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Ngọc Thạch tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), tập trung giải quyết bài toán cấp thiết trên. Nghiên cứu xác định mục tiêu trọng tâm là ứng dụng công cụ mô hình hóa SWAT nhằm đánh giá toàn diện chất lượng nước mặt trên phạm vi lưu vực sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Kạn.

Nghiên cứu lấy mốc thời gian đánh giá chi tiết với bộ dữ liệu quan trắc năm 2010, phân tích động thái dòng chảy cùng tải lượng các hợp chất dinh dưỡng chính gồm NO3-, NH4+ và PO43-. Kết quả mô phỏng cung cấp cơ sở khoa học định lượng hỗ trợ các nhà quản lý địa phương tối ưu hóa cơ cấu sử dụng 194.554 ha đất canh tác, đồng thời kiểm soát chất lượng nguồn nước cung cấp cho hàng triệu người dân khu vực trung du và hạ du.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Quản lý tổng hợp lưu vực sông (QLTHLVS - IWRM), nhìn nhận lưu vực như một thực thể sinh thái thống nhất nơi tương tác giữa đất, nước, thảm thực vật và hoạt động kinh tế được mô hình hóa đồng bộ. Trọng tâm của khung lý thuyết là mô hình SWAT (Soil and Water Assessment Tool) do Jeff Arnold thuộc Cục Nghiên cứu Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA-ARS) phát triển. SWAT vận hành dựa trên phương trình cân bằng nước đất liên tục theo thời gian thực:

SWt = SW0 + Tổng (Rday - Qsurf - Ea - Wseep - Qgw)

Trong đó biến số kiểm soát lượng ẩm tầng đất tại thời điểm t (SWt) phụ thuộc vào lượng mưa ngày (Rday), dòng chảy bề mặt (Qsurf), lượng bốc thoát hơi nước thực tế (Ea), lượng nước thấm qua tầng rễ (Wseep) và dòng ngầm chảy ra sông (Qgw). Mô hình tích hợp phương trình mất đất phổ quát sửa đổi (MUSLE) của Williams (1975) để dự báo xói mòn dựa trên năng lượng dòng chảy mặt, kết hợp với phân hệ thủy động lực học QUAL2E nhằm mô phỏng chu trình chuyển hóa các hợp chất nitơ và photpho trong hệ thống sông chính. Khung phân tích vận hành dựa trên các khái niệm cấu trúc nền tảng: Mô hình số độ cao (DEM), Đơn vị phản ứng thủy văn (HRU), và Hiện trạng sử dụng - Lớp phủ mặt đất (LULC).

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu kết hợp công nghệ Hệ thông tin địa lý (GIS) với mô hình phân bố không gian SWAT. Cơ sở dữ liệu đầu vào bao gồm: mô hình số độ cao DEM chiết xuất từ bản đồ địa hình để phân chia lưu vực thành các tiểu lưu vực đồng nhất; bản đồ thổ nhưỡng với các thông số vật lý - hóa học như nhóm thủy văn đất (Hydgrp), độ dẫn thủy lực bão hòa (Ksat), và hệ số xói mòn USLE_K; bản đồ hiện trạng sử dụng đất phân loại chi tiết 103.341,8 ha đất lúa, 27.520,14 ha đất ngô, cùng 16.292,48 ha đất trồng chè; chuỗi dữ liệu khí tượng bề mặt (lượng mưa ngày, nhiệt độ cao nhất/thấp nhất) từ các trạm quan trắc trong khu vực với lượng mưa bình quân đạt từ 1.500 mm đến 2.000 mm/năm.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 6.030 km² lưu vực với việc trích xuất và phân tích chuyên sâu các tiểu lưu vực đại diện, điển hình như tiểu lưu vực số 7. Phương pháp chọn mẫu dữ liệu không gian dựa trên nguyên tắc ma trận chồng xếp raster giữa lớp phủ đất và loại đất để hình thành các HRU độc lập không gian. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích SWAT tích hợp ArcMap là khả năng mô phỏng liên tục dài hạn trên các lưu vực phức tạp, cho phép định lượng chính xác nguồn ô nhiễm diện phát sinh từ phân bón nông nghiệp và chất thải chăn nuôi của 1.300.107 con lợn cùng 8.942.182 gia cầm trên lưu vực mà các trạm quan trắc truyền thống không thể đo đạc đầy đủ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô phỏng SWAT đã lượng hóa chi tiết mức độ biến động chất lượng nước trên lưu vực sông Cầu, làm nổi bật những đặc trưng phân hóa không gian và thời gian rõ rệt:

Thứ nhất, lượng phát thải và rửa trôi các chất dinh dưỡng có sự chênh lệch lớn giữa hai mùa thủy văn. Mùa mưa (từ tháng 6 đến tháng 9), chiếm tới 75% đến 80% tổng lưu lượng dòng chảy hàng năm, ghi nhận đỉnh tải lượng NO3- và chất lơ lửng cao gấp 8 đến 10 lần so với mùa khô. Lượng mưa ngày cực đoan tại trạm Bắc Kạn từng đạt mức kỷ lục 456 mm đã tạo ra các đợt rửa trôi bề mặt đột biến.

Thứ hai, mối tương quan giữa tỷ lệ che phủ rừng và nồng độ chất ô nhiễm được xác lập rõ nét. Tại các tiểu lưu vực có độ dốc cao nhưng tỷ lệ che phủ rừng duy trì trên 60%, nồng độ trung bình năm của NO3-, NH4+ và PO43- đều nằm trong giới hạn an toàn của QCVN 08:2008/BTNMT (Cột A1 và A2). Ngược lại, tại các tiểu lưu vực có mật độ canh tác nông nghiệp cao, nồng độ phosphat và amoni tăng cao, tiệm cận ngưỡng suy thoái Cột B1.

Thứ ba, nguồn phát thải phi điểm từ sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi đóng góp hơn 65% tổng lượng nitơ và photpho trong nước sông. Với quy mô đàn gia súc lớn gồm 142.363 con trâu và 234.199 con bò kết hợp tập quán sử dụng phân bón vô cơ, lượng dinh dưỡng dư thừa thẩm thấu qua đất và theo dòng chảy ngầm đổ vào các sông nhánh thượng nguồn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự phân hóa nồng độ dinh dưỡng là do sự kết hợp giữa địa hình chia cắt mạnh vùng núi Bắc Kạn và sự suy giảm thảm phủ thực vật tự nhiên. Khi lớp phủ thực vật bị thu hẹp để nhường chỗ cho đất sản xuất, hệ số nhám bề mặt giảm sút làm gia tăng vận tốc dòng chảy tràn, đẩy mạnh quá trình bóc mòn đất mặt giàu hợp chất nitơ hữu cơ.

Dữ liệu mô hình hóa được trực quan hóa sinh động qua hệ thống bản đồ phân cấp chất lượng nước theo từng chỉ tiêu dinh dưỡng năm 2010, biểu đồ chuỗi thời gian nồng độ NO3- tại tiểu lưu vực số 7, cùng đồ thị phân tán thể hiện mối tương quan chặt chẽ giữa giá trị mô phỏng và số liệu quan trắc thực tế. Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Vũ Tấn Phương và Phạm Thị Hương Lan (2005) trên lưu vực sông Chảy và sông Ba, qua đó củng cố tính chính xác của mô hình toán trong việc dự báo lan truyền chất ô nhiễm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng từ mô hình SWAT, nghiên cứu đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tăng cường hiệu quả quản lý tài nguyên nước lưu vực sông Cầu:

  1. Thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước và phục hồi thảm phủ rừng đầu nguồn: UBND tỉnh Bắc Kạn cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần đẩy mạnh khoanh nuôi, bảo vệ rừng phòng hộ thượng nguồn, nâng tỷ lệ che phủ rừng tại các tiểu lưu vực trọng điểm lên mức tối thiểu 65% trong giai đoạn 2015 - 2020 nhằm giảm 30% tải lượng xói mòn đất và rửa trôi dinh dưỡng.
  2. Kiểm soát nguồn thải nông nghiệp và chăn nuôi nông hộ: Chi cục Bảo vệ Môi trường chủ trì chương trình hướng dẫn kỹ thuật canh tác bậc thang, giảm thiểu 25% lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học vượt mức khuyến cáo; bắt buộc 100% cơ sở chăn nuôi quy mô trên 50 con lợn phải xây dựng hầm biogas xử lý chất thải trước năm 2022 để hạn chế xả thải trực tiếp amoni vào nguồn nước.
  3. Ứng dụng công nghệ GIS và SWAT trong giám sát định kỳ: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn cần tích hợp cơ sở dữ liệu viễn thám, DEM và mô hình SWAT vào hệ thống hỗ trợ ra quyết định (DSS), thiết lập mạng lưới 10 điểm quan trắc tự động trên dòng chính sông Cầu nhằm cập nhật hiện trạng và cảnh báo sớm ô nhiễm dinh dưỡng hàng quý từ năm 2023.
  4. Hoàn thiện cơ chế điều phối quản lý tổng hợp liên tỉnh: Thành lập Ban Điều phối Quản lý Lưu vực Sông Cầu liên tỉnh với sự tham gia của Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang và Bắc Ninh; ban hành quy chế chia sẻ dữ liệu thủy văn và quỹ bảo vệ môi trường lưu vực với mục tiêu cân bằng lợi ích phát triển kinh tế hạ du và bảo tồn sinh thái thượng du trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và phương pháp tiếp cận của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho nhiều nhóm độc giả chuyên môn:

  • Cán bộ quản lý môi trường và tài nguyên nước tại các Sở Tài nguyên và Môi trường: Cung cấp phương pháp luận khoa học và quy trình xử lý dữ liệu không gian để xây dựng quy hoạch phân vùng chất lượng nước trên quy mô 6.030 km² lưu vực.
  • Kỹ sư quy hoạch nông nghiệp và phát triển nông thôn: Cung cấp bằng chứng định lượng về tác động của cơ cấu cây trồng (103.341,8 ha lúa, 16.292,48 ha chè) đối với mức độ rửa trôi chất dinh dưỡng, hỗ trợ thiết kế các mô hình canh tác bền vững chống xói mòn đất dốc.
  • Học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên ngành Địa lý, GIS, Viễn thám và Môi trường: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về quy trình chuẩn hóa dữ liệu DEM, trích xuất HRU và tích hợp mô hình thủy văn SWAT trong môi trường ArcGIS.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan quản lý dự án lưu vực: Tài liệu hỗ trợ xây dựng khung can thiệp sinh kế thích ứng và quản trị lưu vực sông liên vùng dựa trên tiếp cận sinh thái tổng thể.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình SWAT có ưu điểm gì vượt trội so với các mô hình thủy văn truyền thống? SWAT tích hợp phân bố không gian với các chu trình vật lý liên tục, chia lưu vực 6.030 km² thành các đơn vị HRU đồng nhất. Điều này cho phép dự báo đồng thời lưu lượng nước, tải lượng bùn cát và chuyển hóa dinh dưỡng từ các nguồn ô nhiễm diện phức tạp.

Tại sao hàm lượng NO3- trong nước sông Cầu lại tăng cao đột biến vào mùa mưa? Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 9 chiếm tới 75% đến 80% lượng mưa cả năm. Lượng nước chảy tràn bề mặt gia tăng cuốn theo lượng phân bón dư thừa từ 146.999 ha đất canh tác lúa và hoa màu, đẩy nhanh quá trình rửa trôi nitrat vào các nhánh sông.

Khái niệm Đơn vị phản ứng thủy văn (HRU) được thiết lập như thế nào trong nghiên cứu? HRU là sự kết hợp duy nhất giữa một loại hiện trạng sử dụng đất, một nhóm thổ nhưỡng và cấp độ dốc trong từng tiểu lưu vực. SWAT tính toán quá trình cân bằng nước và chuyển hóa chất riêng biệt trên từng HRU trước khi cộng gộp cho toàn lưu vực.

Nghiên cứu sử dụng quy chuẩn nào để đánh giá mức độ ô nhiễm của các tiểu lưu vực? Luận văn đối chiếu kết quả mô phỏng hàm lượng trung bình năm của các chỉ tiêu NO3-, PO43- và NH4+ năm 2010 với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/BTNMT để xếp loại chất lượng nguồn nước theo từng mục đích sử dụng.

Mô hình thiết lập trong luận văn có khả năng tái ứng dụng cho các khu vực khác không? Khung quy trình từ tiền xử lý dữ liệu DEM, nhóm đất, khí tượng đến hiệu chỉnh thông số hoàn toàn có thể nhân rộng cho các lưu vực sông miền núi phía Bắc có điều kiện tự nhiên và mô hình canh tác tương đồng.

Kết luận

  • Luận văn xây dựng thành công cơ sở dữ liệu không gian và tham số thủy văn cho mô hình SWAT trên toàn bộ 6.030 km² lưu vực sông Cầu.
  • Kết quả mô phỏng định lượng rõ nét tác động của 194.554 ha đất sản xuất nông nghiệp và hoạt động chăn nuôi đến nồng độ ô nhiễm phú dưỡng NO3-, PO43- và NH4+.
  • Khẳng định vai trò quyết định của thảm phủ rừng đầu nguồn tỉnh Bắc Kạn trong việc điều tiết dòng chảy mùa kiệt và kiểm soát xói mòn chất lượng nước.
  • Cung cấp hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý lưu vực sông liên vùng gắn liền với lộ trình triển khai cụ thể đến năm 2025.
  • Nghiên cứu mở ra hướng đi cần tiếp tục hoàn thiện thông qua việc tích hợp ảnh viễn thám độ phân giải cao và chuỗi số liệu quan trắc tự động thời gian thực; độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm nên khai thác toàn văn tài liệu để áp dụng chi tiết quy trình tính toán cho địa bàn quản lý.