CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG BÉ. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN. Vị trí địa lý. Sông Bé là một con sông chảy qua các tỉnh Bình Phước, Bình Dương và Đồng Nai sông được bắt nguồn từ hồ Thác Mơ 11°51′40″B 107°0′46″Đ, huyện Phước Long, Bình Phước.
Từ đây sông chảy theo hướng tây bắc đến xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp đổi theo hướng tây nam, chảy đến địa phận xã Bình Thắng, Phước Long sông đổi theo hướng nam. Sông tiếp tục chảy đến huyện Phú Giáo, Bình Dương thì đổi sang hướng đông nam và đổ vào sông Đồng Nai tại nhà máy thủy điện Trị An cách hồ Trị An khoảng 2 km về hướng tây Sông có chiều dài khoảng 350 km, chảy qua và làm ranh giới tự nhiên giữa các huyện Phước Long và Bù Đốp, Phước Long và Lộc Ninh, Phước Long và Bình Long, Bình Long và thị xã Đồng Xoài, Bình Long và Phú Giáo, Bình Dương, giữa huyện Tân Uyên, Bình Dương và Vĩnh Cửu, Đồng Nai. Sông Bé là chi lưu lớn nhất nằm bên bờ phải dòng chính sông Đồng Nai. Hình thành từ vùng núi phía Tây của vùng Nam Tây Nguyên (cao nguyên Xnaro) ở độ cao 600-800 m với 3 nhánh lớn là Đak R'lap, Đak Glun và Đak Huyot, sông Bé chảy ra dòng chính Đồng Nai tại vị trí hạ lưu thác Trị An (tuyến đập Trị An) 6 km.
Với chiều dài 350 km và diện tích lưu vực 7.650 km2, độ uốn khúc 1.4, độ dốc lòng sông 0.0032, sông Bé có lưu vực hầu như nằm trọn trong ranh giới hành chính của 2 tỉnh Bình Phước và Bình Dương Thượng nguồn sông Bé có địa hình thượng lưu bị chia cắt, lòng sông dốc (độ dốc 0.072), sông suối chảy trong những khe núi nhỏ hẹp. Từ sau Thác Mơ đến suối Nước Trong là trung lưu sông, với hướng chảy chủ yếu là Bắc-Nam, cao độ lưu vực biến đổi từ 50-120 m, độ dốc lòng sông 0. Từ sau suối Nước Trong sông đổi hướng Tây Bắc-Đông Nam và đổ vào sông Đồng Nai tại vị trí sau thác Trị An khoảng 6 km. 5 Sông Bé là một trong 4 phụ lưu lớn của hệ thống sông Đồng Nai, với diện tích là 7.
Phạm vi lưu vực trải dài trong khoảng tọa độ 116’ – 12 22’ độ vĩ Bắc và 106 35’ – 107 31’ độ kinh Đông, thuộc địa phận các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Đắc Nông và một phần nhỏ trên đất Campuchia. Về ranh giới, phía Bắc giáp với các sông nhánh của lưu vực sông Mêkông thuộc Campuchia, phía Đông và Nam giáp lưu vực sông Đồng Nai, phía Tây giáp lưu vực sông Sài Gòn. Sơ đồ vị trí lưu vực sông Bé được thể hiện ở hình dưới Hình 1. 1: Vị trí địa lý lưu vực sông Bé.
Địa hình, địa mạo. Lưu vực sông Bé nằm trên vùng chuyển tiếp từ địa hình núi cao, cao nguyên của phần cuối phía Nam dãy Trường Sơn xuống đồng bằng Nam Bộ nên địa hình biến đổi rất đa dạng và phức tạp. Trên lưu vực vừa có địa hình đồi núi lại vừa có địa hình trung du dạng gò đồi úp bát và lượn sóng xen lẫn một ít đồng bằng nhỏ, hẹp và một số dạng lòng chảo (bàu trũng). 6 Địa hình dạng đồi núi chiếm phần lớn diện tích lưu vực, tập trung chủ yếu ở trung lưu (đoạn Bình Long - Đồng Phú) lên thượng nguồn sông.
Từ Phước Long trở lên, cao độ biến đổi từ 200 - 900 m. Đây là vùng có nhiều núi cao, với các đỉnh Bu Dak Lung 982 m, Don Linh 960 m, Yok R’tou 857 m, Bu Plang 849 m… đều thuộc huyện Đắk R’lấp, tỉnh Đắc Nông và kết thúc vùng này là núi Bà Rá thuộc huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước, cao độ 726 m. Địa hình trung du dạng đồi bát úp và lượn sóng phân bố ở vùng trung lưu và phía Đông của hạ lưu vực sông. Cao độ phổ biến ở đây từ 100 - 200 m.
Đất đai vùng này hầu hết là đất đỏ bazan, tơi xốp và phì nhiêu, đã được khai thác phần lớn để trồng cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cao su, điều, cà phê và hồ tiêu… Địa hình vùng đồng bằng trung du ở hạ lưu ít chia cắt hơn, nhưng không có các cánh đồng lớn tập trung mà chủ yếu là dạng gò xoải và lượn sóng ven theo triền đồi của các suối Nước Trong, suối Giai phía bờ trái, vùng Tân Lập, Minh Hương, Tân Quan và Chơn Thành phía bờ phải. Cao độ vùng này phổ biến từ 50 - 100 m. Địa hình đồng bằng trũng cục bộ nằm rải rác dọc theo các sông suối trên lưu vực. Những đồng bằng dạng này thường nhỏ hẹp, chủ yếu dùng để trồng lúa nước, một số nơi chưa được cải tạo nên vẫn là đồng lầy hoang hóa.
Hướng nghiêng của địa hình cũng là hướng dốc của lưu vực, với độ cao giảm dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, từ 750 - 1.000 m ở vùng thượng, trung lưu xuống vùng hạ lưu chỉ còn 80 - 100 m và tăng dần từ phía Tây lưu vực với 80 - 150 m sang phía Đông lưu vực với 250 - 700 m. 2: Bản đồ địa hình lưu vực sông Bé. Đặc điểm thảm phủ, thổ nhưỡng. Diện tích đất lâm nghiệp hiện nay trên lưu vực vào khoảng 383.875 ha, chiếm 50,2 % diện tích lưu vực, tập trung chủ yếu ở đầu nguồn và phía đông lưu vực.
Cách đây 30 năm, đất đai trên lưu vực chỉ mới được khai thác một phần nên hầu hết còn là rừng tự nhiên. Diện tích rừng trước 1975 trên 60 %. Đến 1983, diện tích rừng chỉ còn khoảng 45 % và hiện nay chỉ xấp xỉ 35 %. Trong 20 năm gần đây, đặc biệt trong khoảng thời gian từ 1980 - 1990, do có nguồn đất đai rộng lớn và thuận lợi nên cư dân ở nhiều vùng đất nước chuyển về đây khai hoang lập nghiệp theo nhiều hình thức khác nhau, trong đó di dân tự do chiếm tỷ lệ không nhỏ.
Bên cạnh đó, nhiều nông trường (mà chủ yếu là nông trường cao su) được thành lập, nên đất đai được khai phá để phát triển sản xuất ngày càng nhiều. Những vùng gò đồi trước đây là rừng tự nhiên, nay đã được khai hoang và thay thế vào đó là vùng cây công nghiệp lâu năm như cao su, cà phê, điều, hồ tiêu. và các loại cây ăn quả khác. 8 Chính điều này đã làm cho diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp dần, tỷ lệ và chất lượng lớp phủ bề mặt lưu vực giảm đi đáng kể.
Những thay đổi trên là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng lũ lụt ngày càng trở nên nghiêm trọng trên lưu vực, khả năng điều hòa nước mặt trên lưu vực giảm đi đáng kể, gây cạn kiệt dòng chảy vào mùa khô. Qua khảo sát điều tra thực địa cho thấy nhiều khe suối trước đây có nước trong các tháng mùa khô, thì đến nay đã bị khô cạn. Lưu vực sông Bé tuy không lớn nhưng có nhiều loại đất khá phong phú, thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là các loại cây công nghiệp dài ngày. Các loại đất chính trên lưu vực sông Bé bao gồm: + Đất nâu đỏ có diện tích 394.885,38 ha, chiếm 54,21 % diện tích lưu vực, phân bố chủ yếu ở vùng thượng, trung lưu thuộc các huyện Phước Long, Bù Đăng, Tuy Đức và Đồng Phú.
Loại đất này có tầng canh tác khá dày, thích hợp để phát triển nhiều cây lâu năm có giá trị như cà phê, cao su, ca cao… + Đất xám feralit có diện tích 261.478,41 ha, chiếm 18,4 % diện tích lưu vực, phân bố dọc theo dòng chính sông Bé ở vùng trung, hạ lưu thuộc các huyện Phú Giáo, Vĩnh Cửu, Chơn Thành, Đồng Phú. Đây là loại đất tốt ở trung du miền núi, thích hợp cho việc sử dụng đa dạng vào mục đích nông lâm nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái. + Đất nâu vàng có diện tích 60.478,27 ha, chiếm 8,30 % diện tích lưu vực, phân bố tập trung ở thượng nguồn hồ Thác Mơ, thuộc huyện Bù Đăng và rải rác ở huyện Phước Long. Các loại đất còn lại bao gồm đất phù sa chua, đất nâu thẳm trên bazan, đất glây chua, đất đá bọt điển hình, đất lầy thụt và đất thuộc ao hồ, sông suối chiếm diện tích 11.
Phần lớn đất trên lưu vực có chất lượng tốt và dày, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các loại cây trồng, đặc biệt là các loại cây công nghiệp như cao su, điều, cà phê, hồ tiêu và cây ăn quả khác. Đất có độ dày lớn còn là điều kiện tốt để nâng cao khả năng trữ nước. Điều kiện khí hậu. Lưu vực sông Bé nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa gió đông và hè.
Mùa đông, lưu vực chịu ảnh hưởng chủ yếu của 9 gió mùa Đông Bắc ứng với khối không khí đã trở thành nhiệt đới hóa tương đối ổn định, tạo nên một mùa đông ấm áp và khô hạn. Mùa hè, khu vực lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của hai luồng gió mùa Tây Nam, từ vịnh Bengal vào đầu mùa và từ nam Thái Bình Dương vào giữa và cuối mùa. Đặc trưng nổi bật nhất của chế độ khí hậu trên lưu vực là sự phân hóa thành hai mùa mưa - khô tương phản nhau sâu sắc. Mùa mưa tương đối thuận lợi cho sản xuất, ngược lại mùa khô gặp không ít khó khăn do lượng mưa ít, thời tiết nắng nóng kéo dài.
Lưu vực sông Bé có nền nhiệt độ cao với nhiệt độ trung bình năm ở các nơi dao động trong khoảng 25,5 – 26,7 C và biến động nhiệt độ trung bình tháng lớn nhất và nhỏ nhất trong năm từ 20 – 40 C. Thời gian nóng nhất trong năm thường vào những tháng cuối mùa khô và đầu mùa mưa, từ tháng III - V, với khoảng 27 – 28 C, trong đó cao nhất là tháng IV. Thời gian lạnh nhất trong năm vào khoảng từ tháng XII - I, với 23 -25 C. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối có thể lên đến 38,5 - 40,6 C nhưng nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối chỉ ở mức từ 13,7 - 14,3 C.
Dao động nhiệt độ ngày đêm khá lớn, từ 9 -11 C. Như vậy, nhìn chung lưu vực sông Bé là một vùng có nền nhiệt độ cao, ít chênh lệch theo không gian (giữa các nơi) và theo thời gian (trong năm). 3: Bản đồ nhiệt độ trung bình năm lưu vực sông Bé. Lượng mưa hàng năm trên lưu vực sông Bé vào loại lớn nhất trên toàn lưu vực hệ thống sông Đồng Nai, từ 2.