Đồ án tốt nghiệp: Thiết kế hệ thống xử lý khí thải Công ty Phân bón Hàn Việt (360.000 tấn/năm)

Đồ án tốt nghiệp chi tiết về thiết kế hệ thống xử lý khí thải cho công ty phân bón Hàn Việt, công suất 360.000 tấn/năm. Phân tích công nghệ và giải pháp hiệu

Tác giả

Lê Năng Thành

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2021

169
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ thống xử lý khí thải Công ty Hàn Việt

Công ty phân bón Hàn Việt là đơn vị sản xuất phân bón lớn tại Việt Nam với công suất đạt 360.000 tấn mỗi năm. Nhà máy bao gồm nhiều phân xưởng chính như Amoniac, Urê và phân bón Kali. Các phân xưởng này sử dụng công nghệ hiện đại từ các hãng nổi tiếng thế giới như Haldor Topsoe và Snam Proggeti. Quá trình sản xuất liên tục phát sinh nhiều loại khí thải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Khí thải chứa các chất độc hại bao gồm Amoniac (NH3), lưu huỳnh dioxide (SO2), bụi và nhiều hợp chất hữu cơ khác. Nồng độ các chất ô nhiễm này thường vượt quá quy chuẩn cho phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Việc thiết kế hệ thống xử lý khí thải là yêu cầu cấp thiết để đáp ứng các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Hệ thống phải xử lý hiệu quả tất cả các nguồn phát sinh ô nhiễm từ các phân xưởng sản xuất. Thiết kế cần đảm bảo tính kinh tế, khả thi trong vận hành thực tế và đạt hiệu suất xử lý cao nhất.

1.1. Quy mô và năng lực sản xuất của Công ty Hàn Việt

Công ty phân bón Hàn Việt hoạt động với công suất 360.000 tấn sản phẩm mỗi năm. Nhà máy bao gồm nhiều phân xưởng sản xuất chính. Phân xưởng Amoniac sử dụng khí thiên nhiên làm nguyên liệu, áp dụng công nghệ Haldor Topsoe. Phân xưởng Urê sản xuất từ CO2 và NH3 theo công nghệ Snam Proggeti. Quy trình sản xuất Urê trải qua bốn bước chính: tổng hợp Urê trong lò phản ứng ở áp suất 157 bar, phân hủy và thu hồi, cô đặc và tạo hạt trong tháp cao khoảng 100 mét. Ngoài ra, nhà máy còn sản xuất phân bón Kali bằng phương pháp hòa tan kết tinh hoặc tuyển nổi. Quy mô sản xuất lớn đòi hỏi hệ thống xử lý khí thải phải đáp ứng công suất phù hợp.

1.2. Vai trò của hệ thống xử lý khí thải trong sản xuất phân bón

Hệ thống xử lý khí thải đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất phân bón công nghiệp. Hệ thống giúp giảm thiểu phát thải các chất độc hại ra môi trường không khí. Các chất ô nhiễm chính bao gồm NH3, SO2, bụi và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi. Việc kiểm soát khí thải đảm bảo tuân thủ QCVN 19:2009/BTNMT quy định giới hạn tối đa cho các thông số ô nhiễm không khí. Hệ thống xử lý hiệu quả giúp doanh nghiệp tránh các vi phạm pháp luật về môi trường. Bên cạnh đó, hệ thống còn bảo vệ sức khỏe cộng đồng dân cư sống xung quanh khu vực nhà máy sản xuất phân bón.

II. Phân tích thành phần khí thải trong sản xuất phân bón

Khí thải từ nhà máy phân bón Hàn Việt chứa nhiều loại chất ô nhiễm nguy hiểm đến môi trường. Phân xưởng Amoniac phát sinh khí NH3 và bụi xúc tác trong quá trình reforming khí thiên nhiên. Phân xưởng Urê thải ra hơi Urê, NH3 và CO2 từ các tháp tổng hợp, tách và cô đặc. Công đoạn nghiền, sàng, trộn và đóng bao tạo ra lượng bụi lớn trong không khí xung quanh nhà máy. Thành phần khí thải thay đổi tùy theo từng công đoạn sản xuất cụ thể. Nồng độ NH3 trong khí thải thường ở mức cao, gây mùi khó chịu và ảnh hưởng đến đường hô hấp con người. Bụi phát sinh từ quá trình xử lý nguyên liệu có kích thước nhỏ, dễ phát tán trong không khí. Lưu lượng khí thải của nhà máy rất lớn do công suất sản xuất 360.000 tấn mỗi năm. Các thông số này cần được đo đạc chính xác trước khi thiết kế hệ thống xử lý phù hợp.

2.1. Đặc điểm các chất ô nhiễm trong khí thải phân bón

Amoniac (NH3) là chất ô nhiễm chính trong khí thải nhà máy phân bón. NH3 có mùi khói nồng nặc, hòa tan tốt trong nước và phát sinh chủ yếu từ phân xưởng Amoniac và Urê. Nồng độ cao gây kích ứng mắt và đường hô hấp nghiêm trọng. Bụi phân bón có thành phần chủ yếu là Urê, Kali và các hợp chất khoáng với kích thước hạt nhỏ hơn 10 micron. Bụi dễ phát tán và khó lắng tự nhiên trong không khí. Khí SO2 phát sinh từ quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, kết hợp với hơi nước tạo thành acid sunfuric gây mưa acid.

2.2. Nguồn phát sinh khí thải trong quy trình sản xuất

Nguồn phát sinh khí thải chính nằm ở phân xưởng Amoniac. Quá trình reforming khí thiên nhiên giải phóng khí CO và CO2. Xúc tác sử dụng trong lò phản ứng cũng tạo bụi khi bị mài mòn theo thời gian. Phân xưởng Urê là nguồn phát thải lớn thứ hai với tháp tổng hợp, tháp tách và hệ thống cô đặc đều thải ra khí NH3 và hơi Urê. Các công đoạn phụ trợ như nghiền, sàng, trộn và đóng bao tạo ra bụi phân bón lớn. Khu vực lò hơi đốt nhiên liệu hóa thạch thải ra khí SO2, NOx và bụi than. Tất cả các nguồn này cần được kiểm soát đồng bộ.

III. Phương pháp và công nghệ xử lý khí thải hiệu quả

Hệ thống xử lý khí thải Công ty Hàn Việt áp dụng kết hợp nhiều phương pháp công nghệ xử lý hiệu quả. Xử lý bụi sử dụng Cyclone kết hợp với hệ thống chụp hút tại nguồn phát sinh. Xử lý khí NH3 sử dụng tháp hấp thụ nước với hai cấp liên tiếp để nâng cao hiệu suất. Sự kết hợp này đảm bảo khả năng xử lý toàn diện các chất ô nhiễm trong khí thải. Cyclone là thiết bị ly tâm tách bụi dựa trên lực quán tính khi dòng khí chuyển động xoáy. Khí thải đi vào Cyclone theo phương tiếp tuyến, bụi bị văng ra ngoài nhờ lực ly tâm rồi rơi xuống phễu thu. Thiết bị này có ưu điểm dễ vận hành, sửa chữa và chi phí đầu tư ban đầu thấp. Tháp hấp thụ nước xử lý khí NH3 dựa trên nguyên lý hấp thụ vật lý. Nước sạch được phun từ trên xuống, khí thải đi từ dưới lên trong tháp. Hai tháp liên tiếp nâng hiệu suất xử lý lên hơn 95% theo quy chuẩn quốc gia.

3.1. Công nghệ Cyclone xử lý bụi trong khí thải

Cyclone hoạt động theo nguyên lý lực ly tâm để tách bụi ra khỏi dòng khí thải. Khí thải chứa bụi đi vào Cyclone qua ống tiếp tuyến hình chữ nhật. Dòng khí chuyển động xoáy trong thân Cyclone, hạt bụi nặng bị văng ra thành ngoài và rơi xuống phễu thu bụi phía dưới. Hiệu suất tách bụi phụ thuộc vào kích thước hạt, đạt trên 90% đối với hạt lớn hơn 10 micron. Ưu điểm của Cyclone bao gồm vốn đầu tư thấp, dễ bảo trì và có thể thu hồi bụi để tuần hoàn vào quy trình sản xuất. Nhược điểm là cồng kềnh, tạo tiếng ồn và bụi có tính kết dính cần vệ sinh thường xuyên.

3.2. Tháp hấp thụ nước xử lý khí NH3 và SO2

Tháp hấp thụ nước là thiết bị xử lý khí dựa trên quá trình truyền khối giữa pha khí và pha lỏng. Dung dịch hấp thụ là nước sạch, phun từ đỉnh tháp xuống qua lớp vật liệu đệm. Khí thải chứa NH3 đi từ đáy tháp lên, tiếp xúc ngược chiều với nước và NH3 hòa tan vào nước. Hệ thống sử dụng hai tháp hấp thụ nối tiếp để nâng cao hiệu quả xử lý. Tháp thứ nhất xử lý phần lớn nồng độ NH3, tháp thứ hai hấp thụ phần còn sót lại. Hiệu suất xử lý tổng đạt trên 95%. Ưu điểm là vận hành đơn giản, chi phí thấp. Nhược điểm là cần xử lý nước thải sau hấp thụ và tiêu hao năng lượng cho quạt hút.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tế của hệ thống xử lý

Hệ thống xử lý khí thải được thiết kế cho Công ty phân bón Hàn Việt đáp ứng đầy đủ yêu cầu kỹ thuật và quy chuẩn môi trường. Thiết kế bao gồm Cyclone xử lý bụi và tháp hấp thụ nước hai cấp xử lý khí NH3, SO2. Hệ thống đạt hiệu suất xử lý cao, phù hợp với công suất 360.000 tấn mỗi năm của nhà máy sản xuất phân bón. Kết quả tính toán cho thấy hệ thống đáp ứng QCVN 19:2009/BTNMT về khí thải công nghiệp. Nồng độ bụi sau xử lý giảm xuống dưới giới hạn cho phép quy định. Nồng độ NH3 và SO2 trong khí thải đạt quy chuẩn kỹ thuật trước khi xả ra môi trường tự nhiên. Chi phí đầu tư và vận hành hệ thống ở mức hợp lý cho doanh nghiệp quy mô lớn. Đồ án tốt nghiệp đã hoàn thành đầy đủ các nội dung bao gồm 7-8 bản vẽ kỹ thuật chi tiết. Hệ thống có tính ứng dụng thực tế cao, có thể áp dụng cho các nhà máy phân bón tương tự trên toàn quốc.

4.1. Hiệu quả kinh tế và môi trường của hệ thống

Chi phí đầu tư ban đầu cho hệ thống Cyclone và tháp hấp thụ ở mức hợp lý. Cyclone có giá thành thấp hơn so với các thiết bị lọc bụi khác trên thị trường. Tháp hấp thụ sử dụng nước sạch làm dung dịch nên chi phí vận hành hàng ngày thấp. Về mặt môi trường, hệ thống giảm phát thải đáng kể các chất ô nhiễm độc hại. Không khí xung quanh nhà máy được cải thiện rõ rệt. Sức khỏe công nhân và người dân địa phương được bảo vệ tốt hơn. Hiệu quả xử lý bụi đạt trên 90% với Cyclone và hiệu suất hấp thụ NH3 đạt trên 95% với hai tháp liên tiếp.

4.2. Khả năng ứng dụng và mở rộng trong tương lai

Hệ thống xử lý khí thải được thiết kế có tính linh hoạt và khả năng mở rộng cao. Khi nhà máy nâng cấp công suất, hệ thống có thể mở rộng bằng cách bổ sung thêm Cyclone song song. Tháp hấp thụ có thể tăng chiều cao hoặc thêm tầng để nâng hiệu suất. Công nghệ áp dụng trong đồ án có thể áp dụng cho nhiều loại nhà máy phân bón khác nhau. Các nhà máy sản xuất NPK, DAP, SA đều có thành phần khí thải tương tự. Trong tương lai, hệ thống có thể tích hợp thêm công nghệ xúc tác ướt hoặc hấp thụ hóa học để nâng cao hiệu quả xử lý tối đa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Đồ án tốt nghiệp thiết kế hệ thống xử lý khí thải công ty phân bón hàn việt công suất 360 000 tấnnăm

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SẢN XUẤT PHÂN BÓN VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ KHÍ THẢI TỔNG QUAN VỀ NGÀNH SẢN XUẤT PHÂN BÓN Các loại phân bón hầu hết có thành phần dinh dưỡng tương tự nhau, tùy theo nguồn gốc, phân bón được chia làm 03 nhóm chính: phân bón hữu cơ, phân bón vô cơ và phân bón vi sinh.  Phân bón hữu cơ và phân bón vi sinh là: Các loại phân có nguồn gốc từ thực vật, động vật hoặc vi sinh vật, thông qua quá trình phân giải hoặc lên men thành dạng cây có thể hấp thụ được. Hai loại phân này khó sản xuất cơ giới hóa và thương mại hóa ở quy mô lớn.

Vì vậy, ở Việt Nam hiện nay, mảng phân bón hữu cơ chưa phát triển, chỉ được sản xuất kết hợp với các loại phân bón hóa học để tăng độ dinh dưỡng cho cây trồng.  Phân bón vô cơ hay phân bón hóa học là: Loại phân bón được tổng hợp từ khoáng thiên nhiên hoặc các chất hóa học, chứa các muối khoáng vô cơ cần thiết cho cây trồng. Đây là loại phân chiếm 90% tổng nhu cầu tiêu thụ phân bón tại Việt Nam hiện nay Hiện trạng ngành phân bón Thế Giới Năm 2018, tiêu thụ phân bón thế giới chỉ tăng 1% , ước đạt 189,4 triệu tấn chất dinh dưỡng. giai đoạn 2009 - 2018 đạt 2,12%/năm, nguồn cung dư thừa ở một số khu vực.

Xu hướng sử dụng phân NPK chất lượng cao kết hợp với phân hữu cơ, vi sinh kỳ vọng tạo động lực tăng trưởng cho ngành phân bón giai đoạn tới. Nhu cầu phân bón được dự báo sẽ tăng trưởng đạt 1,3%/năm từ năm 2019 - 2023. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) và Hiệp hội Phân bón Quốc tế (IFA) nhu cầu tiêu thụ phân bón toàn cầu năm 2020 ước đạt 191,4 triệu tấn và dự báo trong năm 2021 nhu cầu phân bón tăng lên 194,9 triệu tấn, gia tăng 1,8 % so với năm 2020 và đạt 198,5 triệu tấn vào năm 2024. Hiện tại ngành phân bón cung đang vượt cầu, thặng dư cung cầu năm 2018 và 2019 lần lượt là 8,6 và 7,3 triệu tấn, dự báo năm 2023 tăng nhẹ lên 8,2 triệu tấn.

SVTH: Lê Năng Thành 4 GVHD: PGS.TS Nguyễn Đinh Tuấn Khóa luận tốt nghiệp Đề tài: Thiết kế hệ thống xử lý khí thải công ty phân bón Hàn Việt, công suất 360.000 tấn/năm Nguồn:FPTS Hình 1. 1 Sản xuất và tiêu thụ phân bón trên thế giới Các khu vực tiêu thụ nguồn phân bón lớn nhất đó là Đông Á, Nam Á, Tây & Trung Âu chiếm đến đến 62% lượng tiêu thụ toàn cầu trong năm 2018. Nguồn:FPTS Hình 1. 2 Tiêu thụ phân bón theo khu vực.

SVTH: Lê Năng Thành 5 GVHD: PGS.TS Nguyễn Đinh Tuấn Khóa luận tốt nghiệp Đề tài: Thiết kế hệ thống xử lý khí thải công ty phân bón Hàn Việt, công suất 360.000 tấn/năm Dưới đây là 10 quốc gia sản xuất và tiêu thụ phân bón lớn nhất thế giới được thể hiện trên hình 1. Nguồn:FPTS Hình 1. 3 Biểu đồ cung cầu phân bón của các nước trên thế giới. Hiện trạng ngành phân bón Việt Nam Việt Nam là nước nông nghiệp với quá trình phát triển lâu đời, những thế kỷ trước người nông dân chủ yếu sử dụng phân bón hữu cơ tự chế như: tro, xác thực vật, phân chuồng và một số nguồn hữu cơ khác để bón cho cây trồng.

Từ khi công nghiệp hóa bắt đầu phát triển và phân bón hóa học ra đời đã thúc đẩy nền nông nghiệp nước nhà luôn nâng cao năng xuất và chất lượng cây trồng. Ngành phân bón Việt Nam hình thành và phát triển theo 4 giai đoạn: [1]  Giai đoạn trước 1960: Ngành nông nghiệp kém phát triển do chiến tranh, người nông dân chỉ sử dụng phân hữu cơ tự chế để bón cho cây trồng.  Giai đoạn 1961 – 1980: Sản xuất và tiêu thụ phân Urê, lân ở mức thấp, các nhà máy phân bón ra đời: Nhà máy phân lân Văn Điển (1961), Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao (1962). Nhà máy đạm Hà Bắc (1975) – nhà máy đạm đầu tiên ở Việt Nam, cũng mới chỉ đáp ứng được 8% nhu cầu phân đạm cả nước, vẫn phải nhập khẩu bổ sung từ Trung Quốc.

Tốc độ tăng trưởng nhu cầu phân bón giai đoạn này đạt CAGR = 6,2%/năm, nhu cầu kali cho cây trồng vẫn chưa được chú trọng.  Giai đoạn 1981 – 2000: Ngành phân bón đạt tốc độ tăng trưởng cao ở hầu hết các phân khúc, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 10,1%/năm. Đặc biệt, sự ra đời của phân phức hợp NPK là một đóng góp rất quan trọng cho nền sản xuất nông nghiệp do đầy đủ chất dinh dưỡng và tiện lợi khi sử dụng, giúp tiết kiệm chi phí và công chăm sóc. Giai đoạn này, các nhà sản xuất trong nước đầu tư công nghệ tiên tiến để gia tăng nguồn cung cả chất và lượng.

Ước tính, sản xuất SVTH: Lê Năng Thành 6 GVHD: PGS.TS Nguyễn Đinh Tuấn Khóa luận tốt nghiệp Đề tài: Thiết kế hệ thống xử lý khí thải công ty phân bón Hàn Việt, công suất 360.000 tấn/năm toàn ngành tăng trưởng trung bình 22% giai đoạn 1991 - 1997, mức đầu tư toàn ngành tăng từ 63,5 tỷ đồng năm 1991 lên 102 tỷ đồng năm 1997. Tăng trưởng sản xuất đã nhanh chóng bù đắp phần nào nhu cầu thiếu hụt các mảng sản phẩm NPK, Urê, lân.  Giai đoạn 2001 – nay: Ngành phân bón tiếp tục tăng trưởng nhưng tốc độ chậm lại so với giai đoạn trước. Nhu cầu tiêu thụ phân bón đang có tốc độ tăng trưởng giảm dần, CAGR cả giai đoạn đạt 3,1%/năm.

Tiêu thụ phân bón cả nước tăng từ 6,5 triệu tấn năm 2002, đến năm 2018 đạt gần 11 triệu tấn, trong khi nguồn cung trong nước vẫn tiếp tục gia tăng. Nhu cầu tiêu thụ phân bón trong nước hiện vào khoảng 11 triệu tấn, trong đó phân vô cơ chiếm khoảng 90%. Theo các năm, nhu cầu tiêu thụ cũng có sự dao động đáng kể ở mức 1,4 triệu tấn lân, 2,3 triệu tấn urêm gần 4 triệu tấn NPK. Các loại phân còn lại như DAP, Kali, SA dao động ở mức 580.

Nguồn:FPTS Hình 1. 4 Sản lương tiêu thụ phân bón giai đoạn 1961 – 2017. Tình hình sản xuất trong nước: Tính đến 6T/2018, cả nước có 735 cơ sở sản xuất kinh doanh phân bón được cấp phép với tổng công suất lên tới 29,5 triệu tấn/năm. Trong đó, có 10 doanh nghiệp lớn thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem) và 2 doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) chiếm phần lớn sản lượng phân bón hàng năm.

Một số sản phẩn như Urê, Lân, NPK chiếm đến 70% tổng nhu cầu phân bón và bắt đầu dư cung. Sản xuất DAP trong nước đáp ứng được 35% tổng nhu cầu, Kali và SA phần lớn đang nhập khẩu. Trong giai đoạn tới, việc đầu tư sản xuất NPK chất lượng cao đang đặt ra kỳ vọng cạnh tranh hướng tới thay thế sản phẩm nhập khẩu tạo kỳ vọng cao tăng trưởng ngành phân bón trong nước. SVTH: Lê Năng Thành 7 GVHD: PGS.TS Nguyễn Đinh Tuấn Khóa luận tốt nghiệp Đề tài: Thiết kế hệ thống xử lý khí thải công ty phân bón Hàn Việt, công suất 360.000 tấn/năm Nguồn:FPTS Hình 1.

5 Nguồn cung ứng phân bón tại Việt Nam. Với công xuất thiết kế của một số nhà mày lớn ở Việt Nam, chủ yếu thuộc hai tập đoàn Vinachem và PVN. 1 Công suất thiết kế nhà máy phân bón ở Việt Nam [2]. Công suất thiết Tập đoàn STT Tên Sản phẩm kế ( tấn/ năm) Công ty cổ phần lân Ninh FMP 300.000 Công ty phân bón miền Superphosphate 200.000 Công ty cổ phần Super Superphosphate 750.000 3 photphat và háo chất Lâm NPK 700.000 Vinachem Thao ( LAS) FMP 300.000 Công ty cổ phần lân nung NPK 200.000 4 chảy Văn Điển (VAF) FMP 300.000 Công ty cổ phẩn phân bón 5 NPK 925.000 Bình Điền (BFC) Công ty cổ phần phân bón 6 NPK 200.000 hóa chất Cần Thơ SVTH: Lê Năng Thành 8 GVHD: PGS.TS Nguyễn Đinh Tuấn Khóa luận tốt nghiệp Đề tài: Thiết kế hệ thống xử lý khí thải công ty phân bón Hàn Việt, công suất 360.000 tấn/năm Công ty cổ phần phân 7 Urea 1900.000 đạm và hóa chất Hà Bắc 8 Nhà máy đạm Ninh Bình Urea 560.000 9 Công ty DAP1 DAP 330.000 10 Công ty DAP2 DAP 330.000 Tổng công ty phân bón và 11 Urea 800.000 PVN hóa chất dầu khí 12 Nhà máy đạm Cà Mau Urea 800.000 Tập đoàn quốc tế Năm 13 NPK 300.000 Sao 14 Baconco NPK 200.000 Khác Công ty CP Vật tư tổng 15 NPK 360.000 hợp và phân bón hóa sinh Công ty phân bón Việt 16 NPK 350.000 Nhật Công nghệ sản xuất phân bón Sản xuất phân đạm Để sản xuất amoniac (NH3), kỹ thuật phổ biến nhất vẫn là phản ứng giữa nitơ và hydro, do ông Haber-Bosch, người Đức, phát minh ra vào đầu thế kỷ XX.

Khí CO2 phát sinh trong quá trình loại bỏ CO2 được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất phân đạm urê cùng với amoniac. Qui trình này thường được sử dụng khi xây dựng nhà máy tổng hợp amôniăc và nhà máy tổng hợp đạm urê cạnh nhau. Công nghệ của Haldor Topsoe là công nghệ sản xuất Amoniac từ khí thiên nhiên, được bố trí linh hoạt, sử dụng ít năng lượng và có khả năng mở rộng, nâng cấp. Một số cải tiến của hãng Haldor Topsoe về thiết bị và xúc tác đã được áp dụng cho phân xưởng này.

[3] Các bước công nghệ tại phân xưởng Amoniac ở Nhà máy Đạm Cà Mau hoàn toàn giống phân xưởng Amoniac ở Nhà máy Đạm Phú Mỹ. Ngoài công nghệ Haldor Topsoe thì còn một số công nghệ hiện đại sản xuất phân đạm khác như: - Công nghệ M.Kellogg - Công nghệ Krupp Uhde - Công nghệ ICI - Công nghệ Brown & Root SVTH: Lê Năng Thành 9 GVHD: PGS.TS Nguyễn Đinh Tuấn Khóa luận tốt nghiệp Đề tài: Thiết kế hệ thống xử lý khí thải công ty phân bón Hàn Việt, công suất 360. 6 Công nghệ Hador Topsoe để sản xuất Amoniac [a] Urê được sản xuất từ hai nguồn nguyên liệu chính là CO2 và NH3 từ phân xưởng Amoniac. Công nghệ sản xuất Ure của hãng Snam Proggeti tóm lược như sau: + Bước 1: Tổng hợp Ure.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ