CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG BSC TRONG TRIỂN KHAI THỰC THI CHIẾN LƯỢC 1. KHÁI QUÁT VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ THỰC THI CHIẾN LƯỢC 1. Khái niệm chiến lược Trong thế giới kinh doanh cạnh tranh gay gắt như ngày nay, hầu hết các doanh nghiệp đều lựa chọn cho mình một cách thức để tồn tại và phát triển riêng biệt. Cách thức riêng biệt này được các nhà kinh tế học nghiên cứu một cách có hệ thống và đặt tên nó là “chiến lược”.
Chiến lược của mỗi doanh nghiệp yêu cầu nó phải phát triển một lợi thế cạnh tranh cho phép tiến hành cạnh tranh một cách hữu hiệu. Có thể coi chiến lược là các ý tưởng, các kế hoạch và sự hỗ trợ để một doanh nghiệp tiến hành cạnh tranh thành công trước các đối thủ của nó. Chiến lược có từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này có nguồn gốc từ quân sự, xuất phát từ từ “Strategos” - chỉ kế hoạch dàn trận và phân bố lực lượng với mục tiêu đánh thắng kẻ thù.
Carl von Clausewitz - nhà binh pháp của thế kỷ 19 - đã mô tả chiến lược là “lập kế hoạch chiến tranh và hoạch định các chiến dịch tác chiến. Những chiến dịch ấy sẽ quyết định sự tham gia của từng cá nhân”. Johnson và Schole định nghĩa: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức trong dài hạn, nhằm đạt được lợi thế cho tổ chức thông qua cấu hình các nguồn lực của nó trong bối cảnh của môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu của thị trường và thỏa mãn kỳ vọng của các bên hữu quan”. Ngày nay, các tổ chức kinh doanh cũng áp dụng khái niệm chiến lược tương tự như trong quân đội.
Johnson và Schole định nghĩa: Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức trong dài hạn, nhằm đạt được lợi thế cho tổ chức thông qua cấu hình các nguồn lực của nó trong bối cảnh của môi Luan van 8 trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu của thị trường và thỏa mãn kỳ vọng của các bên hữu quan. Về bản chất, chiến lược được hiểu như thế nào là còn tùy thuộc vào quan điểm. Trong bất kỳ tổ chức nào, các chiến lược đều tồn tại ở vài cấp độ khác nhau trải dài trong toàn bộ doanh nghiệp (hoặc một nhóm doanh nghiệp), từ cấp công ty cho tới từng các nhân viên làm việc trong đó. Vì vậy, khía cạnh chiến lược còn tùy thuộc theo cấp.
Tối thiểu có 03 cấp chiến lược: - Chiến lược cấp công ty hướng đến mục tiêu tổng thể và quy mô của doanh nghiệp để đáp ứng được những kỳ vọng của người góp vốn. Đây là một cấp độ quan trọng do nó chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà đầu tư trong doanh nghiệp và đồng thời nó cũng hướng dẫn quá trình ra quyết định chiến lược trong toàn bộ doanh nghiệp. Chiến lược công ty thường được trình bày rõ ràng trong “tuyên bố sứ mệnh”. - Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh hướng nhiều hơn tới việc làm thế nào một doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ thể.
Nó liên quan đến các quyết định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra được các cơ hội mới. - Chiến lược tác nghiệp là các chiến lược giúp cho các chiến chiến lược kinh doanh và chiến lược cấp công ty thực hiện một cách hữu. Nó liên quan tới việc từng bộ phận trong doanh nghiệp sẽ được tổ chức như thế nào để thực hiện được phương hướng chiến lược ở cấp độ công ty và từng bộ phận trong doanh nghiệp. Bởi vậy, chiến lược tác nghiệp tập trung vào các vận đề về nguồn lực, quá trình xử lý và con người.
Thực thi chiến lược Thực thi chiến lược là quá trình chuyển các ý tưởng chiến lược đã được hoạch định thành các hành động cụ thể của tổ chức. Luan van 9 a) Thiết kế cấu trúc tổ chức Cơ cấu tổ chức là phương tiện để các nhà quản trị có thể phối hợp các hoạt động giữa những chức năng hay bộ phận khác nhau nhằm khai thác đầy đủ các kỹ năng và năng lực của họ. Các khối cơ bản của cơ cấu tổ chức là sự phân công và kết hợp. Sự phân công là cách thức để công ty phân bổ con người, các tài nguyên cho các nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu chiến lược cho tổ chức.
b) Thiết lập và thực thi các chiến lược tác nghiệp Các chiến lược tác nghiệp bao gồm: chiến lược marketing, chiến lược tài chính, chiến lược nhân sự, chiến lược nghiên cứu và phát triển, chiến lược ứng dụng công nghệ thông tin. Các chiến lược tác nghiệp được coi là công cụ, phương tiện thực hiện chiến lược. Thiết lập và thực thi các chiến lược tác nghiệp là việc triển khai phương hướng, mục tiêu chiến lược ở cấp độ công ty đến từng bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện. c) Phân bổ nguồn lực Nguồn lực là điều kiện cần có về con người, nguồn tài chính, kỹ thuật, công nghệ và các phương tiện cần thiết khác để đảm bảo duy trì và phát triển doanh nghiệp theo các mục tiêu đã xác định.
Phân phối nguồn lực nhằm mục đích bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật theo ưu tiên đã xác lập trước cho việc thực thi chiến lược. d) Thiết kế hệ thống kiểm soát Bên cạnh thực hiện các vấn đề trên, công ty cần phải thiết lập một hệ thống kiểm soát thích hợp. Các hệ thống kiểm soát chiến lược là các hệ thống thiết đặt mục tiêu, đo lường và phản hồi cho phép các nhà quản trị chiến lược đánh giá xem công ty có đạt được sự vượt trội về hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến, đáp ứng khách hàng hay không. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA BSC TRONG TRIỂN KHAI THỰC THI CHIẾN LƯỢC 1.
Khái niệm và tổng quan về BSC Balanced Scorecard (BSC) được Giáo sư Robert S.Kaplan và cộng sự của ông là David Norton phát triển tại trường Đại học Havard vào những năm đầu của thập kỷ 90 đã giúp cho các tổ chức có được một hệ thống đo lường, đánh giá thành quả hoạt động không chỉ liên quan đến thước đo tài chính mà cả thước đo phi tài chính. Đây là công cụ chuẩn hóa giữa chiến lược và hoạt động của tổ chức. Cuốn sách “Thẻ điểm cân bằng: Biến chiến lược thành hành động” của hai ông đã được dịch ra 22 thứ tiếng và giành Huy chương vàng giải thưởng Wildman năm 2001 do Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA) trao tặng vì tính thiết thực của nó. BSC diễn giải nhiệm vụ và chiến lược của một tổ chức thành một tập hợp hoàn chỉnh các thước đo hiệu quả hoạt động, các thước đo này cung cấp một khung làm việc cho hệ thống quản lý và đo lường chiến lược từ bốn khía cạnh: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học tập và phát triển.
Các thước đo tài chính dùng để đánh giá các hiệu quả hoạt động trong quá khứ còn các thước đo phi tài chính như thước đo khách hàng, quy trình nội bộ, học tập và phát triển dùng để tạo ra giá trị cho tương lai. Các khía cạnh này cần phải được ‘cân bằng’ với nhau trong thẻ điểm. Thẻ điểm cân bằng mở rộng tập hợp các mục tiêu của đơn vị kinh doanh ra bên ngoài các thước đo tài chính tổng quát. Những người lãnh đạo công ty giờ đây có thể đo lường việc các đơn vị kinh doanh của họ có tạo ra giá trị cho khách hàng hiện tại và tương lai ra sao, họ phải nâng cao khả năng nội tại, đầu tư vào con người, hệ thống và các thủ tục cần thiết để cải thiện hiệu quả hoạt động trong tương lai như thế nào.
Từ khi ra đời đến nay, BSC liên tục được ứng dụng và hoàn thiện không chỉ để làm rõ và truyền đạt chiến lược mà còn để quản lý chiến lược. Trong Luan van 11 thực tế, BSC đã phát triển từ một hệ thống đo lường thành một hệ thống quản lý cốt lõi. Các khía cạnh của BSC BSC cung cấp cho các nhà lãnh đạo một khung mẫu toàn diện, biến tầm nhìn và chiến lược của một công ty thành một tập hợp chặt chẽ các mục tiêu và thước đo hiệu quả hoạt động được tổ chức thành bốn khía cạnh khác nhau là Tài chính, Khách hàng, Quy trình nội bộ và Học hỏi - Phát triển. Bốn khía cạnh hay bốn góc nhìn của Thẻ điểm cân bằng cho biết một sự cân bằng giữa những mục tiêu dài hạn và ngắn hạn, giữa những kết quả mong đợi và những nhân tố thúc đẩy hiệu quả hoạt động của những kết quả đó, giữa những thước đo khách quan, khó khăn và những thước đo đơn giản hơn, chủ quan hơn.
Tuy Thẻ điểm có số lượng khá lớn những thước đo nhưng chúng đều hướng tới việc giành được một chiến lược hợp nhất. Mỗi phương diện trong BSC bao gồm: các mục tiêu, các thước đo của những mục tiêu đó, giá trị chỉ tiêu của các thước đo và các sáng kiến. Các mục tiêu: Các mục tiêu chính cần phải được thực hiện. Ví dụ: Tăng lợi nhuận.
Các thước đo: Các thông số có thể quan sát được sẽ được sử dụng để đo lường sự tiến triển trong quá trình hướng tới thực hiện mục tiêu đề ra. Ví dụ: Mục tiêu tăng lợi nhuận có thể đo lường bằng tốc độ tăng lợi nhuận. Các chỉ tiêu: Là các giá trị mục tiêu cụ thể của các thước đo. Ví dụ: Tăng 20% lợi nhuận.
Các sáng kiến: Là các chương trình hành động nhằm thực hiện các tiêu chí đề ra để thực hiện được các mục tiêu. Ví dụ: Mở rộng thị trường tiêu thụ, tiết kiệm chi phí. Luan van 12 TÀI CHÍNH ‘Để thành công về tài chính, chúng ta nên đối xử với các cổ đông như thế nào?’ KHÁCH HÀNG QUY TRÌNH NỘI BỘ ‘Để đạt được tầm nhìn TẦM NHÌN ‘Để thỏa mãn cổ đông và thì chúng ta cần phải đối VÀ khách hàng, các quy với khách hàng như thế CHIẾN LƯỢC trình kinh doanh nào của nào?’ chúng ta phải vượt trội?’ HỌC HỎI VÀ PHÁT TRIỂN ‘Để hoàn thành mục tiêu, làm thế nào để chúng ta duy trì khả năng thay đổi và phát triển?’ Hình 1.