Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Quá trình dạy học Dạy học là tổ chức quá trình nhận thức. Quá trình dạy học gồm hai mặt có quan hệ hữu cơ với nhau: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Hoạt động học Học là thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng do người khác truyền lại [18, tr 453].
Học là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người của mình Theo tâm lý học, hoạt động học là hoạt động nhận thức được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo hướng tới làm thay đổi chính bản thân người học, nội dung tri thức thường không mới với nhân loại, nhưng khi chủ thể hoạt động chiếm lĩnh được thì nhờ sự chiếm lĩnh này tâm lý của chủ thể đã có sự thay đổi và phát triển. Sự tiếp thu này có tính tự giác cao sẽ hình thành phương pháp tự học cho người học, nó có vai trò quan trọng giúp người học biết tự học suốt đời. Như vậy, học là quá trình thu nhận thông tin, xử lý thông tin đã thu nhận, tích hợp thông tin đó vào vốn tri thức tích luỹ của cá nhân và vận dụng thông tin vào tình huống mới của thực tiễn học tập và cuộc sống, từ đó điều chỉnh để có cách học cho phù hợp. Hoạt động dạy Dạy là hoạt động truyền lại kiến thức hoặc kỹ năng một cách ít nhiều có hệ thống, có phương pháp [18, tr 244].
Dạy là toàn bộ hoạt động của giáo viên nhằm làm cho học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng trên cơ sở đó phát triển ở họ năng lực nhận thức và hình thành thế giới quan duy vật biện chứng. Hay nói cách khác, dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình học sinh chiếm lĩnh tri thức, phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cách. Như vậy, dạy không đơn thuần là truyền thụ tri thức mà dạy cách học, dạy cách thu nhận thông tin, xử lí thông tin, lưu trữ thông tin và vận dụng thông tin vào tình huống mới của thực tiễn học tập và cuộc sống. 5 Phương pháp dạy học tích cực và quá trình dạy học tích cực Phương pháp dạy học tích cực là thuật ngữ dùng để chỉ những PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học.
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học. Quá trình dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm thực chất là tổ chức quá trình dạy học thành một hệ thống tác động cộng hưởng giữa chu trình học của trò và chu trình dạy của thầy. Chu trình học: thực chất là con đường nghiên cứu khoa học, con đường xoắn ốc ơristic “kiểu học trò” dẫn dắt HS đến tri thức khoa học, đến chân lí và chỉ có thể diễn ra dưới tác động hợp lí của chu trình dạy của thầy. Chu trình học gồm 3 thời kì tuần tự như sau: - Tự nghiên cứu: Người học tự thu thập và xử lí thông tin qua quan sát, tra cứu, sưu tầm từ các nguồn tài liệu…phát hiện được vấn đề mới với bản thân.
Kiến thức thu được ở thời kì này mang tính cá nhân, chủ quan, có thể hoàn toàn chưa đúng. - Tự thể hiện: Người học tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân của mình, tự thể hiện qua hợp tác, giao tiếp, trao đổi với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội (lớp học). - Tự kiểm tra, điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình, qua hợp tác với bạn với thầy, người học tự thấy được những thiếu sót trong sản phẩm của mình; từ đó tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học. Chu kỳ dạy của giáo viên tác động hợp lý và phù hợp, cộng hưởng với chu kỳ học của học sinh.
Chu kỳ đó gồm ba thời kỳ: Hướng dẫn: Thầy hướng dẫn cho từng học sinh về các nhiệm vụ học tập, về các nhiệm vụ phải thực hiện trong tập thể HS; để học sinh nhận ra được rồi tự nghiên cứu, tự tìm tòi và kiến thức đó là sản phẩm mang tính cá nhân. Tổ chức: Thầy nêu ra cách tổ chức hoạt động để mỗi học sinh được trao đổi, tranh luận, cùng hoạt động như làm việc theo nhóm học sinh, hoạt động tập thể ngoài giờ học. Như vậy, nhờ tổ chức của thầy mà học sinh được tự thể hiện mình qua việc hợp tác trò với trò hoặc trò với thầy. Thầy luôn là người 6 đạo diễn, người dẫn chương trình làm việc.
Kết quả là kiến thức được bổ sung, hoàn chỉnh hơn và mang tính chất xã hội của cộng đồng lớp học. Trọng tài, cố vấn: Thầy gợi ý về cách tự kiểm tra, tự đánh giá, thầy là người kết luận về vấn đề còn tranh cãi giữa trò với trò. Thầy khẳng định về mặt khoa học của kiến thức do người học tự tìm ra. Qua khẳng định của thầy, người học điều chỉnh lại cách hiểu và cách học của mình.
Lí thuyết hệ thống Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc có cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ chặt chẽ với nhau, làm thành một thể thống nhất [27, tr 434] Theo Cuzơmin: “Hệ thống là một tập hợp gồm nhiều yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định và tính chỉnh thể, có những thuộc tính và những quy luật tích hợp” Theo quan điểm triết học, hệ thống được hiểu là một tổ hợp các yếu tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể. Trong đó, mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tượng trở thành một chỉnh thể toàn vẹn; và đến lượt mình, khi nằm trong mối quan hệ qua lại đó, các yếu tố cấu trúc tạo nên những thuộc tính mới không có ở các yếu tố cấu trúc riêng lẻ làm xuất hiện những thuộc tính mới. Tác động biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc tạo động lực cho sự vận động và phát triển của hệ thống. Như vậy, hệ thống là tập hợp gồm nhiều phần tử có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, tương tác với nhau và với môi trường theo những quy luật nhất định để trở thành một chỉnh thể, làm xuất hiện những thuộc tính mới.
Những tính chất cơ bản của hệ thống Tính ổn định tương đối: Cơ cấu của hệ thống có tính ổn định trong một thời điểm xác định. Trong một phạm vi nhất định, tính ổn định này sẽ hình thành một trật tự bên trong các phần tử tạo ra “thế năng” của hệ thống. Tính cân bằng động: Sự tác động của các phần tử tạo ra sự cân bằng của hệ thống. Nhưng cơ cấu của hệ thống luôn luôn biến đổi tạo ra “động năng” của hệ thống, bắt đầu từ sự biến đổi của các phần tử, các bộ phận trong cơ cấu cũ; đến một mức độ nào đó sẽ làm cơ cấu thay đổi, nó chuyển sang trạng thái khác về chất hoặc trở thành một cơ cấu khác.
7 Tính đa dạng: Một hệ thống trong thực tế có rất nhiều cơ cấu khác nhau, tuỳ theo từng dấu hiệu quan sát, đó là sự chồng chất cơ cấu của hệ thống. Quan điểm hệ thống Mỗi sự vật hiện tượng tự nhiên hay xã hội bao giờ cũng nằm trong một hệ thống nhất định. Quan điểm hệ thống đặt mọi sự vật trong hệ thống ở trạng thái không ngừng vận động theo những quy luật vốn có của nó. Khi xem xét các sự vật hiện tượng cần chú ý đến những nguyên tắc cơ bản sau: Mỗi hệ thống là một tập hợp các yếu tố, giữa chúng có sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau và với môi trường bên ngoài, tạo nên tính chỉnh thể của hệ thống, đó là những thuộc tính tổng hợp, đặc trưng cho hệ thống, là phương thức tồn tại của hệ thống.
Mỗi hệ thống vừa là hệ thống của các yếu tố có cấp độ hẹp hơn, đồng thời vừa là yếu tố của hệ thống khác có cấp độ rộng lớn hơn. Trong hệ thống, cái toàn thể bao giờ cũng lớn hơn những bộ phận cấu thành. Thuộc tính mới là thuộc tính toàn thể, không có ở các thành phần; nó xuất hiện do sự tương tác của các thành phần. Mỗi hệ thống luôn luôn vận động và cân bằng, cân bằng là một dạng vận động đặc biệt, là trạng thái ổn định bên trong của của hệ thống.
Nguyên tắc này không những xem xét sự vật ở một thời điểm nhất định với tất cả các mối liên hệ của nó mà còn xem xét sự vật trong quá trình vận động, phát triển theo thời gian của nó. Động lực chủ yếu quyết định sự tự thân vận động phát triển của hệ thống nằm ở bên trong hệ thống, mà trước hết là ở sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập bên trong hệ thống. Nguyên tắc đa chiều là cách nhìn nhiều mặt, nhiều cấp độ, nhiều cách hiểu khác nhau về đối tượng, hệ thống. Một lí thuyết về một loại hệ thống nào đó bao giờ cũng phản ánh một cách hiểu nhất định về từng mặt, từng cấp độ khi xem xét nó.
Vì vậy, cần hết sức tránh việc áp đặt một lí thuyết cụ thể nào là chân lí tuyệt đối về các hệ thống đó, mà nên xem mỗi lí thuyết đều có những giới hạn giải thích nhất định 8 1. Tiếp cận HSSH 1. Hằng số Hằng số là số không đổi trong quá trình được xét [27, trang 427]. Trong thực tế, mỗi sự vật hiện tượng luôn có những mối liên hệ, không có sự vật, hiện tượng nào là đứng yên, không thay đổi mà tất cả đều vận động, biến đổi, phát triển và mất đi.
Vận động bao hàm cả quá trình đứng im tương đối. Thiếu sự đứng yên tương đối này, mọi sự vật hiện tượng sẽ không tồn tại và phát triển.Ăngghen viết: “Vận động và cân bằng. Cân bằng không thể tách rời vận động. Trong vận động của các thiên thể, có vận động trong cân bằng và cân bằng trong vận động (một cách tương đối).
Nhưng bất kỳ sự vận động tương đối riêng biệt nào, ở đây tức là bất kỳ vận động riêng biệt nào cũng đều có xu hướng khôi phục lại sự đứng yên tương đối, sự cân bằng. Khả năng đứng yên tương đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của sự phân hoá vật chất và do đó của sự sống” [Các Mác-Ph.