MỞ ĐẦU 1. Thông tin đề tài và tính cấp thiết của đề tài Hiện nay công tác phòng cháy chữa cháy đang là vấn đề được nhiều lãnh đạo thành phố quan tâm. Cháy không chỉ gây thiệt hại cho riêng một cá nhân, hộ gia đình nào mà ảnh hưởng đến những người xung quanh cũng như ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự nói chung. Bên cạnh đó nhiều vụ cháy còn gây thiệt hại lớn về vật chất cũng như ảnh hưởng đến an sinh xã hội.
Chính vì thế, mỗi người dân cũng như doanh nghiệp cần nhận thức rằng đảm bảo an toàn PCCC chính là bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của chính mình, của cộng đồng xã hội để từ đó có trách nhiệm hơn trong công tác PCCC. Bên cạnh ý thức phòng chống cháy nổ của người dân thì Sở Cảnh sát KLTN Thông tin địa lý PCCC Thành phố cũng tăng cường công tác xây dựng phong trào toàn dân PCCC trên địa bàn Thành phố, xác định nhiệm vụ phòng cháy và chữa cháy là nhiệm vụ hàng đầu và thường xuyên tiến hành đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, tăng cường kiểm tra đôn đốc, chỉ đạo việc thực hiện các quy định về an toàn PCCC; phát huy tối đa hiệu quả phương châm “4 tại chỗ” trong công tác phòng cháy chữa cháy là “Chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và vật tư hậu cần tại chỗ” xử lý kịp thời mọi tình huống xảy ra. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tác chiến và quy hoạch phòng cháy chữa cháy đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới và đạt được hiệu quả rất cao, mà đặc biệt là ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ GIS (Geographic Information System). Vì vậy, trước tình hình cháy phức tạp trên địa bàn thành phố hiện nay, việc ứng dụng công nghệ GIS sẽ là một bước tiến trong công tác quản lý, tác nghiệp và quy hoạch để công tác phòng cháy 1 chữa cháy được tập trung và hiệu quả, góp phần hạn chế thấp nhất những thiệt hại về người và của do cháy nổ gây ra.
Xuất phát từ lý do trên, đề tài nghiên cứu: “Ứng dụng GIS hỗ trợ công tác tác chiến và quy hoạch phòng cháy chữa cháy trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” được tiến hành. Mục tiêu nghiên cứu Ứng dụng công nghệ GIS hỗ trợ công tác tác chiến và quy hoạch phòng cháy chữa cháy nhằm giúp cho lực lượng cảnh sát PC&CC khu vực khai thác và sử dụng nhanh nhất các nguồn thông tin phục vụ kịp thời cho công tác điều hành chỉ huy chữa cháy đạt hiệu quả cao, làm giảm thiệt hại do cháy gây ra đến mức thấp nhất. Chi tiết các mục tiêu cụ thể được đặt ra như sau: - Xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy. - Xây dựng công cụ hỗ trợ công tác tác chiến phòng cháy chữa cháy.
- Xây dựng công cụ hỗ trợ công tác quy hoạch trạm phòng cháy chữa cháy. Phạm vi nghiên cứu KLTN Phạm vi nghiên cứu được Thông giới hạn tinthành trên địa bàn địaphốlýHồ Chí Minh, là thành phố đông dân, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam. 2 Chương 2 TỔNG QUAN 2. Thông tin về địa bàn nghiên cứu Theo [10], thành phố Hồ Chí Minh nằm trong tọa độ địa lý khoảng 10O10’ – 10O38’ vĩ độ Bắc và 106O22’ – 106O54’ kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế. Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây. Vùng cao nằm ở KLTN Thông tin địa lý phía Bắc – Đông Bắc và một phần Tây Bắc, với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình 10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32 m như đồi Long Bình ở quận 9.
Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía Nam – Tây Nam và Đông Nam thành phố, vùng này có độ cao trung bình trên dưới 1 m, cao nhất 2 m và thấp nhất 0. Các khu vực Trung tâm Thành phố, gồm một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5-10 m. Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đa dạng, có nhiều điều kiện để phát triển nhiều mặt về kinh tế cũng như văn hóa xã hội.1: Bản đồ địa giới hành chính Thành phố Hồ Chí Minh [10]. Hiện trạng quản lý về PC và CC tại TP.HCM Giới thiệu SởKLTN Thông Cảnh sát Phòng tin cháy và địa Chữa cháylý thành phố Hồ Chí Minh: Lực lượng Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy TP.Hồ Chí Minh được thành lập ngay sau ngày miền nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975) với tên gọi là phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy thuộc Công an Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở tiếp quản Sở cứu hỏa Đô Thành Sài Gòn.
Quy trình tổ chức quản lý và xử lý nghiệp vụ của các phòng nghiệp vụ thuộc Sở Cảnh sát Phòng Cháy và Chữa Cháy được thành lập theo Quyết định số 719/QĐ-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 4 tháng 10 năm 2006. Sở Cảnh sát Phòng Cháy và Chữa Cháy bao gồm: Ban giám đốc Sở (Giám đốc Sở, 03 Phó Giám đốc), 07 phòng nghiệp vụ, 13 phòng Cảnh sát PCCC Quận - Huyện và Phòng Cảnh sát PCCC Trên Sông. Ban giám đốc và các phòng ban nghiệp vụ có trụ sở tại số 258 Trần Hưng Đạo, phường Nguyễn Cư Trinh – Quận1 – TP.Hồ Chí Minh.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy Sở Cảnh sát Phòng cháy và Chữa cháy KLTN Thông TP. Hồ Chí tin Minh địa [9].
lý Thông tin vị trí các phòng CS PCCC của Thành phố, theo [9]: Bảng 2.1: Thông tin địa chỉ các phòng CS PCCC của TP. STT Tên đơn vị Địa chỉ 1 Phòng CS PCCC Quận 1 258 Trần Hưng Đạo, Nguyễn Cư Trinh, Q.1 2 Phòng CS PCCC Quận 3 103 Lý Chính Thắng, Q.3 3 Phòng CS PCCC Quận 4 183 Tôn Thất Thuyết, Q.1 4 Phòng CS PCCC Quận 6 149 Cao Văn Lầu, phường 2, Q.6 5 Phòng CS PCCC Quận 8 250 Tùng Thiện Vương, phường 11, Q.8 6 Phòng CS PCCC Quận 9 Số 02 Xa lộ Hà Nội, Q.9 7 Phòng CS PCCC Quận 11 225 Lý Thường Kiệt, Q.11 8 Phòng CS PCCC Quận12 Quốc lộ 1A, Q.12 9 Phòng CS PCCC Q.Bình Thạnh 18A Phan Đăng Lưu, Q.Bình Thạnh 10 Phòng CS PCCC Q.Gò Vấp 108 Nguyễn Du, Q.Gò Vấp 11 Phòng CS PCCC Q.Bình Tân 452 Linh Dương Vương, Q.Bình Tân 12 Phòng CS PCCC Trên sông 25 Bis Tôn Thất Thuyết, Q.4 5 Thực trạng về quản lý hệ thống cấp nước phục vụ công tác chữa cháy: hệ thống cấp nước phục vụ công tác chữa cháy bao gồm [1]: - Trụ nước chữa cháy: khoảng trên 5. - Bể nước có trên 50 m3 nước: khoảng trên 1. - Bến và điểm lấy nước ven kênh rạch: khoảng trên 500 vị trí.
Tình hình nghiên cứu Trên thế giới Hầu hết các nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển đều đã ứng dụng công nghệ GIS phục vụ công tác chữa cháy. Trong đó, mô hình dữ liệu GIS phục vụ công tác chữa cháy Fire Service/HazMat của ESRI được ghi nhận là đầy đủ các yếu tố cần thiết. Mô hình bao gồm các chức năng cơ bản (basic function): chức năng phản ứng đầu tiên (first response), định vị trí (Locate an Incident), tìm đường đi (route to location), cung cấp thông tin (Provide Resource/Responder information), truy cập thông tin tác chiến (Access Tactical information), lập kế hoạch (preplain), kế hoạch sàn (floor plan), thu thập hình ảnh (pictures), ảnh viễn thám (aerial Imagery), các KLTN sensor và các video cung Thông cấp thông tin Sensor tin (Facility địa lý and Video feeds), quản lý sự cố (Incident Management), hệ thống lệnh hỗ trợ giải quyết sự cố (Support Incident Command Systems), mở rộng các hoạt động xuyên thông qua biên giới (Expand to operate across boundaries), xác định tài sản nơi xảy ra sự cố (Understand resources), truy cập thông tin liên quan (Access information related to the facility), hiển thị các thông tin khác (Display other data), theo dõi các tài nguyên thông qua dữ liệu GPS (Track resources through GPS data), xác định hệ thống phòng cháy (Fire Prevention), quản lý nhân sự chữa cháy tại địa phương (Fire Educators).3: Mô hình phòng cháy chữa cháy của Esri. Trong mô hình phòng cháy chữa cháy của Esri, Basemap là bản đồ nền liên kết các KLTN nhóm lớp: địa chính, Thông địa hình, tin môi tài nguyên địatrường, lý mạng tiện ích (điện thoại/điện/nước/gas), giao thông.
Với 33 lớp không gian, 4 bảng thuộc tính, 4 quan hệ không gian và 97 domains, mô hình do ESRI đề xuất liên kết nhiều dữ liệu từ các ban ngành khác nhau. Do đó, hướng tổ chức dữ liệu của ESRI phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống hạ tầng phần cứng và hạ tầng mạng. Hơn thế nữa, mô hình đòi hỏi sự thống nhất và có công việc khung nhịp nhàng trong việc chia sẻ dữ liệu giữa các tổ chức trong nhà nước [1]. Theo tài liệu tham khảo [8], bài báo viết về phân tích lợi ích chi phí của việc quản lý các trạm cứu hỏa đô thị của Trung Quốc.
Với quá trình đô thị hóa nhanh chóng và mật độ dân số cao ở Trung Quốc, cơ sở hạ tầng đô thị để chữa cháy có thể là khó khăn để đáp ứng nhu cầu nâng cao an toàn công cộng đô thị. Bằng cách phân tích toàn diện chi phí đầu vào và lợi ích đầu ra của các trạm cứu hỏa đô thị, bài báo đã áp dụng mô hình tỉ lệ lợi ích – chi phí để phân tích chi phí – lợi ích năng động của việc đầu tư chữa cháy đô thị. Một số chiến lược quan trọng đã được đề nghị để quản lý trạm cứu hỏa đô thị ở Trung Quốc, chú trọng phân bổ hợp lý giá trị đầu vào và nâng cao một cách khoa học lợi ích đầu ra.