MỞ ĐẦU Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển với xu thế hội nhập.Theo tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2015, tốc độ tăng trƣởng trung bình hàng năm tăng khoảng 7,2 %, mặc dù những năm gần đây tình hình kinh tế Thế giới có phần giảm sút. Theo số liệu của Tổng cục thống kê Việt Nam cho thấy, Tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP) năm 2015 ƣớc tính tăng 6,68% so với năm 2014, trong đó quý I tăng 6,12%; quý II tăng 6,47%; quý III tăng 6,87%; quý IV tăng 7,01%. Mức tăng trƣởng này cao hơn mục tiêu 6,2% đề ra và cao hơn mức tăng của các năm từ 2011-2014, cho thấy nền kinh tế phục hồi rõ nét. Trong mức tăng 6,68% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,41%, thấp hơn mức 3,44% của năm 2014, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và KLTN Thông tin địa lý xây dựng tăng 9,64%, cao hơn nhiều mức tăng 6,42% của năm trƣớc, đóng góp 3,2 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,33%, đóng góp 2,43 điểm phần trăm.Tuy nhiên, nƣớc ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó những tác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề nóng bỏng và đƣợc cộng đồng đặc biệt quan tâm.
Một trong những vấn đề đƣợc nhắc đến nhiều nhất trong giai đoạn này là tình trạng hạn hán dẫn đến xâm nhập mặn ở khu vực Tây Nam Bộ, đặc biệt là các tỉnh giáp biển nhƣ: Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau,…Theo ƣớc tính, có khoảng hàng trăm nghìn hecta lúa, mía, cây ăn trái, hoa màu, vùng nuôi thủy sản bị thiệt hại; hơn một triệu ngƣời dân thiếu nƣớc ngọt sử dụng. Ở đồng bằng sông Cửu Long, có một số hệ thống thủy lợi quy mô lớn - chẳng hạn nhƣ: Quản Lộ - Phụng Hiệp, Tứ giác Long Xuyên, Nam Măng Thít, O Môn - Xà No… tất cả điều đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nguồn nƣớc cho sinh hoạt 1 và sản xuất. Tất cả các hệ thống thủy lợi, đã có quy chế hoạt động nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra ban đầu. Tuy nhiên, sự tăng trƣởng dân số và phát triển kinh tế trong những năm gần đây đã dẫn đến những thay đổi đáng kể trong nhu cầu tƣới tiêu cũng nhƣ nƣớc sinh hoạt.
Cùng với đó là những thay đổi điều kiện khí hậu làm cho hoạt động của hệ thống trở nên quá tải. Đối với Quản Lộ - Phụng Hiệp, Hội đồng quản lý khu vực (RMC) đƣợc thành lập năm 2007 do Bộ NN & PTNT. Mặc dù RMC đƣợc thành lập và quy định hoạt động đã đƣợc ban hành từ 2007-2013, các hoạt động của hội đồng vẫn còn rất hạn chế với chỉ 1-2 cuộc họp mỗi năm để chuẩn bị kế hoạch và đƣa ra những giải pháp, kết luận. Do đó, hiệu quả hầu nhƣ không đạt đƣợc.Tình trạng này tồn tại cho đến gần đây khi Bộ NN & PTNT thành lập tổ chức mới - Ban Chỉ đạo hệ thống thủy lợi QLPH, Tháng 3 năm 2013 - để điều phối các hoạt động hệ thống và KLTN quản lý.
Tuy nhiên, vẫn chƣa cóThông quyết địnhtin hiệu địa lý thực hiện trong việc giải quả đƣợc quyết các vấn đề trong thực tế, trong đó nổi trội nhất là điều tiết nƣớc dọc theo hệ thống sản xuất lúa và nuôi tôm. Tình trạng thiếu nƣớc lợ để nuôi tôm và nƣớc ngọt để trồng lúa hoặc xâm nhập mặn vào vùng lúa đã xuất hiện thƣờng xuyên trong một số tiểu vùng. Có nhiều phƣơng pháp quản lý nƣớc đã đƣợc áp dụng ở đây.Tuy nhiên, những phƣơng pháp này rất tốn kém về mặt thời gian, công sức và phạm vi lấy mẫu bị giới hạn.