Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của tác giả Trương Thị Phương Chi, chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí (mã số: 62 14 01 11), thực hiện tại Trường Đại học Vinh năm 2017 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Thị Phú và PGS.TS Mai Văn Trinh, mang tiêu đề: "Xây dựng và sử dụng E-learning vào dạy học các kiến thức Hạt nhân nguyên tử Vật lí 12 THPT theo mô hình lớp học đảo ngược".
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW và Hướng dẫn số 6072/BGDĐT-CNTT ngày 04/09/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong dạy học. Định hướng cốt lõi là chuyển trọng tâm từ việc giáo viên ứng dụng công nghệ trong tiết giảng sang việc hướng dẫn học sinh tự khai thác, ứng dụng ICT nhằm hình thành năng lực tự học (NLTH) suốt đời.
Hệ thống E-learning sở hữu nhiều ưu điểm về tính linh hoạt, khả năng cá nhân hóa việc học mọi lúc, mọi nơi, nhưng bộc lộ hạn chế do đòi hỏi tính tự chủ cao và thiếu môi trường tương tác trực tiếp, rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếp như lớp học giáp mặt (F2F). Ngược lại, lớp học F2F truyền thống tại trường trung học phổ thông (THPT) lại bị hạn chế bởi thời lượng tiết học và sự phân hóa trình độ tiếp thu. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là: tại Việt Nam, mô hình lớp học đảo ngược (Flipped Classroom Model - FCM) kết hợp với E-learning chủ yếu mới được khảo sát ở bậc đại học hoặc dừng ở nghiên cứu lý thuyết đại cương, chưa có công trình nào nghiên cứu ứng dụng cụ thể vào việc bồi dưỡng NLTH môn Vật lí ở cấp THPT.
- Mục đích nghiên cứu: Xây dựng và sử dụng hệ thống E-learning các kiến thức Hạt nhân nguyên tử Vật lí 12 THPT theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
- Giả thuyết khoa học: Nếu xây dựng và sử dụng hệ thống E-learning cho học sinh tự học ở nhà, tổ chức dạy học trên lớp F2F theo mô hình lớp học đảo ngược thì sẽ bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 8 nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về NLTH và bồi dưỡng NLTH.
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về E-learning và vai trò bồi dưỡng NLTH của E-learning.
- Nghiên cứu mô hình lớp học đảo ngược và vai trò của mô hình đối với việc bồi dưỡng NLTH.
- Nghiên cứu khả năng ứng dụng E-learning hỗ trợ bồi dưỡng NLTH vật lí theo mô hình lớp học đảo ngược qua khảo sát thực trạng tại một số trường THPT tỉnh Bình Thuận, Nghệ An và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu nội dung khoa học và nội dung dạy học các kiến thức Hạt nhân nguyên tử trong chương trình Vật lí THPT.
- Xây dựng hệ thống E-learning hỗ trợ bồi dưỡng NLTH các kiến thức Hạt nhân nguyên tử.
- Thiết kế tiến trình bồi dưỡng NLTH với hệ thống E-learning đã xây dựng theo mô hình lớp học đảo ngược.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả.
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học Vật lí ở trường THPT; E-learning với việc hỗ trợ bồi dưỡng NLTH trong môn Vật lí ở trường THPT.
- Phạm vi nghiên cứu: Dạy học các kiến thức chương "Hạt nhân nguyên tử" Vật lí 12 tại trường THPT. Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm tại các trường THPT thuộc tỉnh Bình Thuận (THPT Lương Thế Vinh), Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Nghệ An (THPT Huỳnh Thúc Kháng, THPT Nguyễn Duy Trinh).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nhóm vấn đề chính:
Các nghiên cứu về dạy học hướng tới bồi dưỡng năng lực tự học (dạy - tự học):
- Trên thế giới: Từ thời cổ đại, tư tưởng của Khổng Tử, R.Sing (Phương Đông) và Socrate (Phương Tây) đã nhấn mạnh vai trò chủ động tự tìm tri thức của người học. J.A. Komenxki (1592-1670) nêu các nguyên tắc tạo động cơ tự học; Carl Rogers đề cao tính tự ý thức và trách nhiệm học tập; Robert Fisher trong tác phẩm Dạy trẻ học đề xuất 10 chiến lược bồi dưỡng NLTH; Rubakin với tác phẩm Tự học như thế nào; Kharlamov (Phát huy tính tích cực của HS như thế nào); R.Retzke (Học tập hợp lý); T. Makiguchi (Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo).
- Tại Việt Nam: Nguyễn Hiến Lê (Tự học để thành công); Lê Khánh Bằng (Tổ chức quá trình dạy học Đại học); Đinh Quang Báo; Trần Bá Hoành; Nguyễn Văn Biên; Nguyễn Cảnh Toàn và cộng sự (Quá trình dạy - tự học, Học và dạy cách học). Trong phương pháp dạy học Vật lí có các luận án của Nguyễn Thị Nhị (2010), Lương Viết Mạnh (2012), Trần Đức Khoản (2012).
Các nghiên cứu về xây dựng và sử dụng hệ thống E-learning:
- Trên thế giới: Bắt đầu từ Isaac Pitman, Bernard Luskin (1840) và thuật ngữ E-learning do Jay Cross xác lập năm 1998. Các nghiên cứu của Herrington & Oliver, Anderson & Elloumi, Rovai, Woo & Reeves, Arafeh, Guri-Rosenblit, Trucano, Zemsky & Massy, Badrul và Mohamed Ally (Cẩm nang về E-learning), Arbaugh, Duray chứng minh E-learning giúp chuyển đổi trọng tâm sang người học, hỗ trợ học tập phân hóa nhưng cũng chỉ ra tỷ lệ bỏ cuộc nếu học sinh thiếu kỹ năng công nghệ và tính tự giác.
- Tại Việt Nam: Luận án của Mai Văn Trinh (1998); các nghiên cứu của Phạm Xuân Quế, Jef Peeraer, Trần Nữ Mai Thy, Trần Thị Thái Hà; luận án của Trần Trung (2010), Nguyễn Văn Hồng (2012), Trần Thanh Bình (2014), Nguyễn Thị Thanh Hồng (2014), Lê Thanh Huy (2015), cùng các công bố của Nguyễn Kim Hồng, Trần Văn Lăng, Đào Văn Tuyết, Choi Seong, Nguyễn Thị Lệ, Lê Đức Long, Nguyễn Đình Thúc.
Các nghiên cứu về mô hình lớp học đảo ngược (FCM):
- Trên thế giới: Khái niệm được định hình qua nghiên cứu của Lage (2000), Arafeh (2004), Beck và Schornack (2004), Frederickson (2005), Bergmann và Sams (2012), Janet (2012), Marcey và Brint (2012), Brunsell và Horejsi (2013), Smith (2013), Jami Carlacio, Frydenberg (2013), Guy và Marquis (2016). Các tác giả khẳng định việc xem video bài giảng ở nhà giúp học sinh nắm kiến thức nền tảng, tạo điều kiện cho giờ học trên lớp tập trung thảo luận, giải quyết vấn đề.
- Tại Việt Nam: Các bài viết và báo cáo của Nguyễn Chính, Hoàng Giang Quỳnh Anh, Phạm Anh Đới, Nguyễn Thế Dũng, Lê Huy Tùng, Michelle Vickers (RMIT), Nguyễn Quốc Vũ và Lê Thị Minh Thanh.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các đề tài trước đây sử dụng E-learning đồng nhất cho cả việc học ở nhà và trên lớp truyền thống, chưa phân định rõ vai trò của từng môi trường học tập. Các nghiên cứu về lớp học đảo ngược tại Việt Nam chủ yếu áp dụng ở bậc đại học hoặc mang tính giới thiệu lý thuyết chung. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách thiết lập một mô hình kết hợp cụ thể giữa E-learning và FCM để bồi dưỡng NLTH trong dạy học chính khóa môn Vật lí cấp THPT, cụ thể hóa qua chương "Hạt nhân nguyên tử" lớp 12.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm Năng lực tự học: Luận án xác định NLTH là khả năng huy động tri thức, kĩ năng sẵn có, kinh nghiệm bản thân, động cơ, hứng thú để tự lực chiếm lĩnh tri thức mới, rèn luyện kĩ năng mới và hoàn thiện phẩm chất của mỗi cá nhân.
- Cấu trúc NLTH: Vận dụng quy trình của Griffin, P. (2015) và Nguyễn Văn Biên, luận án xác lập cấu trúc gồm 4 thành tố, 10 chỉ số hành vi với 3 mức độ chất lượng (M1, M2, M3):
| Thành tố |
Chỉ số hành vi (cs) |
| 1. Xác định mục đích học tập |
1.1. Xác định kiến thức, kĩ năng cần học 1.2. Xác định kiến thức kĩ năng liên quan đã có, đã biết |
| 2. Lập kế hoạch tự học |
2.1. Xác định phong cách bản thân 2.2. Lựa chọn phương pháp học tập 2.3. Lập thời gian biểu tự học |
| 3. Tiến hành kế hoạch tự học |
3.1. Làm việc với tài liệu 3.2. Làm việc với người hỗ trợ 3.3. Rèn luyện trên đối tượng vật chất |
| 4. Đánh giá điều chỉnh hoạt động học |
4.1. Đánh giá được kết quả của bản thân 4.2. Đánh giá điều chỉnh được kế hoạch học tập |
- Chu trình dạy - tự học: Gồm 3 thời kỳ:
- Thời một (1): Học sinh tự nghiên cứu tài liệu/E-learning để thu nhận tri thức mang tính cá nhân.
- Thời hai (2): Học sinh trao đổi, hợp tác nhóm trong lớp học để tri thức mang tính xã hội.
- Thời ba (3): Giáo viên thể chế hóa, kết luận chính xác hóa tri thức thành tri thức khoa học, học sinh tự điều chỉnh.
- Cơ sở công nghệ E-learning: Áp dụng mô hình hệ thống quản lý học tập (LMS) và quản lý nội dung học tập (LCMS); tuân thủ các chuẩn quốc tế gồm chuẩn đóng gói (SCORM, IMS, AICC), chuẩn metadata (IEEE LOM), chuẩn chất lượng và chuẩn media; áp dụng quy trình thiết kế hệ thống 5 giai đoạn ADDIE (Analysis - Design - Development - Implementation - Evaluation).
- Hình thức E-learning: Triển khai theo dạng học tập kết hợp (Blended learning), làm phương tiện phân phối học liệu số cho học sinh tự học ở nhà trước khi lên lớp.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp các tài liệu giáo dục học, tâm lý học, phương pháp dạy học Vật lí, chương trình và sách giáo khoa Vật lí 12 nâng cao và cơ bản.
- Phương pháp nghiên cứu công nghệ: Cấu trúc dữ liệu, số hóa bài giảng, video đa phương tiện, lập trình web service, thiết lập hệ thống câu hỏi tương tác.
- Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn: Khảo sát thực trạng tự học và ứng dụng CNTT qua phiếu hỏi, phỏng vấn giáo viên, học sinh, dự giờ, ghi hình tại Bình Thuận, TP. Hồ Chí Minh và Nghệ An.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy thực nghiệm và đối chứng song song tại các trường THPT; thu thập dữ liệu định tính và định lượng trước và sau tác động.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các tham số thống kê mô tả (điểm trung bình, độ lệch chuẩn, phương sai, hệ số biến thiên), lập bảng phân phối tần số, bảng phân bố tần suất, tần suất tích lũy và kiểm định giả thuyết thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng kết lịch sử nghiên cứu về bồi dưỡng NLTH trên thế giới và tại Việt Nam; phân tích sự phát triển của E-learning từ các hệ thống truyền thống đến mô hình lớp học đảo ngược. Tác giả chỉ ra các điểm nghẽn của dạy học truyền thống và dạy học E-learning thuần túy, từ đó xác định sự cần thiết phải kết hợp hai hình thức này trong mô hình lớp học đảo ngược. Chương 1 khép lại bằng việc nêu rõ 4 câu hỏi nghiên cứu định hướng toàn bộ nội dung luận án:
- Lựa chọn mô hình dạy học nào phù hợp để bồi dưỡng NLTH bằng E-learning?
- E-learning cần đảm bảo tiêu chuẩn và quy trình thiết kế nào để hỗ trợ dạy - tự học?
- Cấu trúc tổng quát của bài học trên lớp được thiết kế ra sao để tối ưu hóa thời gian tương tác?
- Nội dung E-learning chương "Hạt nhân nguyên tử" cần được thiết kế cụ thể như thế nào?
Chương 2. E-learning hỗ trợ bồi dưỡng năng lực tự học Vật lí ở trường trung học phổ thông
Chương 2 xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh cho đề tài. Tác giả phân tích nội hàm khái niệm tự học, xây dựng bảng cấu trúc NLTH (4 thành tố, 10 chỉ số hành vi, bảng tiêu chí chất lượng 3 mức M1-M3) và mô hình chu trình dạy - tự học 3 thời kỳ. Tác giả so sánh chi tiết giữa dạy học truyền thống và dạy - tự học:
| Tiêu chí |
Dạy học truyền thống (GV làm trung tâm) |
Dạy - tự học (HS làm trung tâm) |
| Mục tiêu |
Truyền đạt kiến thức quy định trong chương trình, SGK; chuẩn bị cho HS đi thi. |
Chuẩn bị cho người học thích ứng xã hội; tôn trọng nhu cầu, năng lực cá nhân; phát triển con người toàn diện. |
| Nội dung |
Thiết kế theo logic nội dung bài học; chú trọng hệ thống kiến thức lý thuyết, định luật trừu tượng. |
Hướng vào thực tế; chú trọng kỹ năng thực hành, vận dụng và giải quyết vấn đề thực tiễn. |
| Phương pháp |
Thuyết trình, giảng giải một chiều; học sinh thụ động ghi nhớ và tái hiện. |
Hoạt động độc lập và theo nhóm; GV điều khiển, hướng dẫn; HS chủ động khám phá, tìm tòi. |
| Hình thức tổ chức |
Lớp học hình thức, bàn ghế cố định, phương tiện kỹ thuật ở mức tối thiểu. |
Tự chủ, thân mật; chỗ ngồi thay đổi linh hoạt theo hoạt động nhóm; sử dụng thường xuyên phương tiện kỹ thuật. |
| Kết quả |
Tri thức có sẵn, phụ thuộc tài liệu; GV độc quyền đánh giá dựa trên tái hiện thông tin. |
Tri thức tự tìm, hình thành năng lực tự học; HS tự giác chịu trách nhiệm, tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. |
Tác giả đề xuất 5 biện pháp bồi dưỡng NLTH, phân tích các đặc điểm, thành phần hệ thống E-learning (LMS, LCMS), các chuẩn quốc tế (SCORM, IMS, AICC, IEEE LOM, media standards), quy trình ADDIE và lý thuyết mô hình lớp học đảo ngược làm cơ sở vận dụng vào môn Vật lí.
Chương 3. Xây dựng và sử dụng hệ thống E-learning các kiến thức Hạt nhân nguyên tử Vật lí lớp 12 THPT hỗ trợ bồi dưỡng năng lực tự học theo mô hình lớp học đảo ngược
Chương 3 trình bày các kết quả nghiên cứu ứng dụng cụ thể:
- Phân tích chương trình: Phân tích mục tiêu chuẩn kiến thức, kỹ năng và cấu trúc logic chương "Hạt nhân nguyên tử" Vật lí 12 nâng cao và cơ bản.
- Khảo sát thực trạng: Khảo sát hoạt động tự học và ứng dụng CNTT của giáo viên, học sinh tại các trường THPT thuộc Bình Thuận, TP. Hồ Chí Minh và Nghệ An, xác nhận tính cấp thiết và khả thi của việc ứng dụng E-learning.
- Thiết kế hệ thống E-learning: Xây dựng cổng học tập trực tuyến tại địa chỉ
http://schoolviet.com gồm các khóa học:
- Cấu tạo hạt nhân nguyên tử - Độ hụt khối
- Phóng xạ
- Phản ứng hạt nhân
- Phản ứng phân hạch
Hệ thống tích hợp bài giảng đa phương tiện (video phân đoạn), bài giảng điện tử (PowerPoint, PDF), bài tập củng cố tương tác theo từng đơn vị kiến thức, chức năng quản lý tài khoản, theo dõi nhật ký (log) học tập và bài kiểm tra đánh giá tự động.
- Biên soạn phiếu hướng dẫn tự học (HDTH) ở nhà: Thiết kế cấu trúc chuẩn của phiếu HDTH cá nhân tương ứng với từng bài học, định hướng học sinh xem video, trả lời câu hỏi và ghi nhận các vấn đề chưa hiểu.
- Thiết kế tiến trình bài học trên lớp: Xây dựng cấu trúc giờ học giáp mặt theo mô hình lớp học đảo ngược:
- Khởi động, tạo hứng thú và kiểm tra nhanh kết quả tự học ở nhà.
- Báo cáo kết quả làm việc với phiếu HDTH, chữa bài tập cốt lõi.
- Tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức bằng bản đồ tư duy.
- Hoạt động nhóm thảo luận, giải quyết các câu hỏi thắc mắc, bài toán nâng cao hoặc nhiệm vụ mở rộng.
- Giáo viên tổng kết, chính xác hóa kiến thức khoa học và giao nhiệm vụ bài học tiếp theo.
Chương 4. Thực nghiệm sư phạm
Chương 4 mô tả quá trình và kết quả thực nghiệm sư phạm tại các trường THPT: Lương Thế Vinh (Bình Thuận), Huỳnh Thúc Kháng (Nghệ An), Nguyễn Duy Trinh (Nghệ An). Quá trình thực nghiệm tiến hành trên các cặp lớp thực nghiệm (TN) và đối chứng (ĐC) tương đương về trình độ.
- Đánh giá định tính: Học sinh nhóm TN thể hiện sự tiến bộ rõ rệt qua 4 thành tố NLTH: chủ động lập kế hoạch học tập, hoàn thành phiếu HDTH trước khi đến lớp, tích cực tham gia thảo luận nhóm, thành thạo kỹ năng xây dựng bản đồ tư duy và nâng cao kỹ năng ứng dụng CNTT.
- Đánh giá định lượng: Luận án tổng hợp điểm kiểm tra, điểm đánh giá quá trình và phân tích bằng các công cụ thống kê toán học. Nhóm TN đạt kết quả cao hơn nhóm ĐC về điểm trung bình, có đường phân bố tần suất tích lũy lệch phải so với nhóm ĐC, tỷ lệ học sinh đạt điểm khá - giỏi cao hơn và tỷ lệ học sinh yếu kém giảm rõ rệt, khẳng định tính hiệu quả của phương pháp tác động.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Xây dựng hoàn chỉnh khung năng lực tự học môn Vật lí ở trường THPT gồm 4 thành tố, 10 chỉ số hành vi và hệ thống tiêu chí chất lượng ở 3 mức độ (M1, M2, M3).
- Đề xuất mô hình bồi dưỡng NLTH thông qua sự kết hợp giữa hệ thống E-learning (phương tiện hỗ trợ tự học ở nhà) và mô hình lớp học đảo ngược (tổ chức dạy học giáp mặt trên lớp).
- Xác lập các tiêu chuẩn sư phạm - kỹ thuật của E-learning hướng tới bồi dưỡng NLTH môn Vật lí và quy trình xây dựng hệ thống theo mô hình ADDIE.
- Đề xuất tiến trình chung cho các bài học trên lớp trong mô hình lớp học đảo ngược có sự hỗ trợ của E-learning.
Đóng góp về mặt ứng dụng thực tiễn
- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống E-learning kiến thức chương "Hạt nhân nguyên tử" Vật lí 12 tại địa chỉ
http://schoolviet.com với hệ thống học liệu số đa định dạng (video đa phương tiện, bài giảng điện tử, bài tập củng cố, bài kiểm tra trắc nghiệm, module theo dõi lịch sử làm bài).
- Biên soạn bộ phiếu hướng dẫn tự học cá nhân ở nhà với E-learning cho toàn bộ các bài học trong chương.
- Thiết kế hệ thống giáo án mẫu trên lớp theo mô hình lớp học đảo ngược tích hợp công cụ bản đồ tư duy và phương pháp học tập hợp tác.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Các cấp quản lý giáo dục cần tăng cường đầu tư hạ tầng CNTT, kết nối Internet tại các trường THPT nhằm tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận học liệu số.
- Tổ chức các khóa tập huấn bồi dưỡng kỹ năng CNTT cho giáo viên, đặc biệt là kỹ năng biên tập video bài giảng, thiết kế học liệu chuẩn E-learning và kỹ năng điều hành hoạt động nhóm trong lớp học đảo ngược.
- Trang bị kỹ năng sử dụng máy tính, internet và phương pháp tự học cho học sinh trước khi triển khai các khóa học trực tuyến.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chỉ giới hạn phạm vi nội dung trong chương "Hạt nhân nguyên tử" Vật lí 12 THPT. Việc triển khai mô hình phụ thuộc nhiều vào điều kiện trang thiết bị công nghệ (máy tính, đường truyền internet) và mức độ tự giác của học sinh; những học sinh thiếu phương tiện hoặc kỹ năng CNTT yếu gặp khó khăn trong giai đoạn đầu tự học ở nhà. Quá trình thiết kế học liệu số và chuẩn bị video đòi hỏi nhiều thời gian và công sức của giáo viên.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng xây dựng hệ thống E-learning và tiến trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược cho toàn bộ chương trình Vật lí 12 cũng như các khối lớp khác ở bậc THPT; nghiên cứu mở rộng sang các môn học khoa học tự nhiên khác ở trường phổ thông.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học Vật lí / Khoa học Giáo dục: Luận án là tài liệu tham khảo chi tiết về phương pháp luận nghiên cứu bồi dưỡng năng lực tự học, cách thức lượng hóa năng lực thành các chỉ số hành vi và tiêu chí đánh giá, cùng quy trình kỹ thuật xây dựng E-learning chuẩn quốc tế.
- Đối với giáo viên Vật lí THPT: Cung cấp nguồn tư liệu thực hành trực tiếp gồm hệ thống học liệu số, các mẫu phiếu hướng dẫn tự học ở nhà và cấu trúc giáo án tổ chức giờ học trên lớp theo mô hình lớp học đảo ngược chương Hạt nhân nguyên tử.
- Đối với cán bộ quản lý giáo dục: Cung cấp cơ sở thực tiễn và mô hình tổ chức đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực, hỗ trợ định hướng đầu tư cơ sở vật chất và kế hoạch bồi dưỡng giáo viên đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông.
Câu hỏi thường gặp
1. Năng lực tự học được định nghĩa và cấu trúc như thế nào trong luận án?
Luận án định nghĩa NLTH là khả năng huy động tri thức, kĩ năng sẵn có, kinh nghiệm bản thân, động cơ, hứng thú để tự lực chiếm lĩnh tri thức mới, rèn luyện kĩ năng mới và hoàn thiện phẩm chất của mỗi cá nhân. Cấu trúc NLTH gồm 4 thành tố: (1) Xác định mục đích học tập, (2) Lập kế hoạch tự học, (3) Tiến hành kế hoạch tự học, (4) Đánh giá điều chỉnh hoạt động học, cụ thể hóa thành 10 chỉ số hành vi và 3 mức độ chất lượng (M1, M2, M3).
2. Chu trình dạy - tự học được luận án phân chia thành các thời kỳ nào?
Chu trình gồm 3 thời kỳ: Thời một (1) - GV hướng dẫn HS tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức mang tính chất cá nhân; Thời hai (2) - HS trao đổi, thảo luận nhóm để tri thức mang tính chất xã hội; Thời ba (3) - GV kết luận, chuẩn hóa khoa học để tri thức mang tính chất khoa học, làm cơ sở để HS tự kiểm tra, tự điều chỉnh.
3. Hệ thống E-learning phục vụ luận án được triển khai tại đâu và tuân thủ các chuẩn kỹ thuật nào?
Hệ thống được xây dựng tại địa chỉ http://schoolviet.com, thiết kế theo quy trình ADDIE 5 giai đoạn, tuân thủ các chuẩn đóng gói và trao đổi thông tin SCORM, IMS, AICC, chuẩn metadata IEEE LOM và các chuẩn media của W3C.
4. Trong mô hình lớp học đảo ngược của luận án, hoạt động của giáo viên và học sinh được phân chia ra sao giữa ở nhà và trên lớp?
Ở nhà, học sinh sử dụng E-learning xem video bài giảng đa phương tiện, làm bài tập củng cố và hoàn thành phiếu HDTH cá nhân. Trên lớp, giáo viên không giảng lại lý thuyết mà tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả tự học, tổng hợp kiến thức bằng bản đồ tư duy, thảo luận nhóm giải quyết vấn đề mở và củng cố kiến thức.
5. Vì sao tác giả chọn chương "Hạt nhân nguyên tử" Vật lí 12 để áp dụng mô hình?
Do kiến thức chương này đi sâu vào cấu trúc vi mô của vật chất, có tính trừu tượng cao, phương tiện trực quan truyền thống khó đáp ứng; đồng thời đây là chương cuối lớp 12, học sinh đã có kỹ năng sử dụng máy tính, Internet và có động cơ học tập cao để chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học.
Kết luận
Luận án của tác giả Trương Thị Phương Chi đã giải quyết trọn vẹn nhiệm vụ xây dựng cơ sở lý luận và quy trình thực tiễn cho việc kết hợp hệ thống E-learning với mô hình lớp học đảo ngược nhằm bồi dưỡng năng lực tự học môn Vật lí cấp THPT. Thông qua việc thiết kế hệ thống học liệu số tại http://schoolviet.com và bộ công cụ phiếu hướng dẫn tự học chương "Hạt nhân nguyên tử" lớp 12, tác giả đã chứng minh tính khả thi của mô hình trong việc chuyển đổi vai trò người học từ thụ động sang chủ động. Các kết quả thực nghiệm sư phạm định tính và định lượng khẳng định mô hình không chỉ nâng cao năng lực tự học của học sinh mà còn cải thiện rõ rệt kết quả học tập môn học.