CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Mục đích của đề tài là xây dựng và sử dụng hệ thống E-learning vào dạy học các kiến thức Hạt nhân nguyên tử Vật lí 12 THPT theo mô hình lớp học đảo ngược (Flipped classroom) nhằm bồi dưỡng cho HS năng lực TH. Vì vậy, trong phần tổng quan chúng tôi đặt nhiệm vụ là: - Tìm hiểu các công trình nghiên cứu về dạy học hướng tới bồi dưỡng NLTH (dạy - tự học). - Tìm hiểu các công trình nghiên cứu về xây dựng và sử dụng hệ thống E-learning hỗ trợ bồi dưỡng NLTH. Dựa trên các kết quả phân tích để xác định các vấn đề cần nghiên cứu của đề tài.
Các công trình nghiên cứu về DH hướng tới bồi dưỡng NLTH Dạy học hướng tới bồi dưỡng NLTH, sau đây gọi tắt là dạy - tự học. Dạy - tự học đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước. Các nghiên cứu trên thế giới Trong lịch sử giáo dục, vấn đề bồi dưỡng NLTH cho HS đã được quan tâm từ rất sớm, với tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, R.Sing ở Phương Đông cổ đại hay Socrate ở Phương Tây. Các ông đều đề cao vai trò của cá nhân trong quá trình học tập, người học phải tích cực, chủ động trong quá trình học, tự tìm ra kiến thức cho mình và trách nhiệm của nhà giáo dục là phải khơi gợi những kiến thức tiềm ẩn bên trong mỗi HS, phải dạy cho HS biết cách tự học [45].
Đến thời kì Phục Hưng ở Châu Âu, J.A Komenxki (1592-1670) [47], ông tổ của nền giáo dục cận đại, đã nêu ra những nguyên tắc, những PPDH nhằm bồi dưỡng NLTH như xây dựng hoài bão, tạo động cơ để người học có động lực vượt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình chiếm lĩnh tri thức,… Cral Roger - nhà tâm lý học người Mỹ với quan điểm cho người học tự ý thức, an toàn và tự do để lựa chọn cách học và phải có trách nhiệm đầy đủ về quyết định và kết quả học tập của họ. Nhiệm vụ của GV là xây dựng môi trường học tập tin cậy, an toàn trở thành người cùng học, chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực và kỹ thuật học tập [45]. Robert Fisher trong tác phẩm Dạy trẻ học [43] đã đưa ra 10 chiến lược rất hiệu quả trong việc hướng dẫn cách học, đặc biệt là bồi dưỡng NLTH cho HS là: tư duy để học, đặt câu hỏi, lập kế hoạch, lập dàn ý, vẽ sơ đồ nhận thức, thảo luận, tư duy đa hướng, học tập hợp tác, kèm cặp, xây dựng cộng đồng tự học rất hiệu quả. Rubakin [44] trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, đã tổng kết những kinh nghiệm cá nhân trong công tác dạy học và bồi dưỡng năng lực tự học.
Theo ông, việc tự tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học.Kharlamov [21] trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS như thế nào”; R.Retzke [42] trong cuốn “Học tập hợp lý” đã khẳng định vai trò của TH, bồi dưỡng NLTH, tự nghiên cứu trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của HS khi thông hiểu và tiếp thu tri thức mới. Từ những năm 30 của thế kỷ XX, nhiều nhà giáo dục châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực TH và bồi dưỡng NLTH. Nhà sư phạm người Nhật T. Makiguchi trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” đã cho rằng giáo dục chính là quá trình hướng dẫn TH mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt đến hạnh phúc của bản thân và cộng đồng [31].
Thời gian này còn có rất nhiều quan điểm đề cao sự hoạt động tích cực của HS, khuyến khích hình thành và bồi dưỡng NLTH cho HS qua việc chú trọng cá thể hóa, để HS tự do phát triển theo những năng khiếu riêng biệt như O.Freinel… Từ cuối thế kỷ XX đến nay, chủ trương giáo dục toàn cầu, định hướng mục tiêu dạy học lấy HS làm trung tâm, coi trọng TH, tự đào tạo, với quan điểm rằng con người có thể thích ứng với đòi hỏi của xã hội hiện đại như hiện nay chỉ khi họ học được cách học. Học cách học chính là học cách tự học, tự đào tạo [17]. Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của TH, bồi dưỡng NLTH. Các tác giả đều khẳng định vai trò to lớn của hoạt động TH cũng như nhiệm vụ của người thầy là phải tổ chức, hướng dẫn, bồi dưỡng cho HS năng lực TH.
Hoạt động dạy học chính là hoạt động đồng thời của cả thầy và trò, nhằm dạy cho trò biết cách tự học được xem là hoạt động dạy - tự học. Các nghiên cứu ở Việt Nam Từ những năm cuối thế kỉ XIX trở lại đây, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu với mục đích nâng cao chất lượng DH theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS. Các tác giả đều thống nhất với quan điểm dạy học phải bao hàm cả dạy TH, bồi dưỡng NLTH, tiêu biểu như Nguyễn Hiến Lê trong tác phẩm “Tự học để thành công” [26]; Lê Khánh Bằng với “Tổ chức quá trình dạy học Đại học” [3]; Đinh Quang Báo với bài viết “Tự học, tự đào tạo tư tưởng chiến lược trong phát triển giáo dục Việt Nam (Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của tự học trong đào tạo ở bậc đại học)” [2]; Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 - 2000 cho giáo viên Trung học cơ sở của Trần Bá Hoành [16]; Đề xuất khung năng lực và định hướng dạy học môn vật lí ở trường Phổ Thông của Nguyễn Văn Biên [4],… Nguyễn Cảnh Toàn và đồng sự cũng có nhiều bài viết về cơ sở khoa học, tính cấp thiết và khả thi của TH và 8 dạy TH, như “Quá trình dạy - tự học”, “Học và dạy cách học” [48], [49], [50], [51],…và nhiều nghiên cứu khác xoay quanh nội dung nâng cao hiệu quả đào tạo, các biện pháp bồi dưỡng NLTH, tự nghiên cứu cho HS. Gần đây, trong lĩnh vực Lí luận và PPDH bộ môn Vật lí, có nhiều công trình khoa học, nhiều luận án cũng đã nghiên cứu các biện pháp tổ chức hoạt động TH, dạy - tự học cho HS, góp phần đáng kể vào việc làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của các biện pháp bồi dưỡng NLTH.
Một số luận án mà chúng tôi đã tiếp cận như của tác giả Nguyễn Thị Nhị (2010) “Tổ chức hoạt động nhận thức tích cưc, tự lực cho học sinh trong dạy học một số kiến thức cơ học, điện học vật lí lớp 10, 11 nâng cao với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” [33], tác giả cho rằng những yêu cầu về nội dung của chương trình THPT cần phải có những đổi mới tích cực về phương pháp và phương tiện dạy học, khẳng định phải chú trọng đến bồi dưỡng NLTH cho HS; luận án “Hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS trong dạy học vật lí ở trường Dự bị Đại học Dân tộc” của tác giả Lương Viết Mạnh [32] và luận án “Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo mô đun phần “Điện học” vật lí đại cương góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên đại học ngành kỹ thuật” của tác giả Trần Đức Khoản [22],… đều khẳng định việc hình thành và phát triển NLTH cho HS rất quan trọng và đề xuất các biện pháp bồi dưỡng NLTH vật lí cho HS. Tuy các nghiên cứu về TH và bồi dưỡng NLTH đã diễn ra từ khá lâu và việc vận dụng đã phần nào có một số kết quả nhất định nhưng chủ yếu là các nghiên cứu, vận dụng trong dạy học ở các trường Đại học, trường Dự bị Đại học Dân tộc. Chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách cụ thể, chi tiết và đề xuất được 1 mô hình phù hợp để bồi dưỡng NLTH cho HS trong dạy học chính khóa ở cấp THPT. Chính vì thế chúng tôi đã nghiên cứu đề tài theo hướng đề xuất 1 mô hình dạy học phù hợp với mục đích bồi dưỡng NLTH, đặc biệt đối với bộ môn Vật lí ở trường THPT.
Các công trình nghiên cứu về xây dựng và sử dụng hệ thống E-learning hỗ trợ bồi dưỡng NLTH Cơ sở lí luận và ứng dụng của E-learning đã được tiến hành nghiên cứu từ rất lâu và cho đến nay đã có rất nhiều công trình khoa học được công bố, từ xây dựng nội dung và tài liệu môn học dựa trên Web cho đến việc phát triển những hệ thống quản lý đào tạo (Learning Management Systems). Các nghiên cứu xây dựng và sử dụng hệ thống E-learning trong mô hình lớp học truyền thống 1. Các nghiên cứu trên thế giới Tư tưởng xây dựng và sử dụng hệ thống E-learning ở các mức độ khác nhau nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS đã xuất hiện khá sớm. Năm 1840, Isaac Pitman và 9 Bernard Luskin là những người đầu tiên đặt nền móng cho việc sử dụng hệ thống E- learning vào DH.
Ban đầu E-learning chỉ đơn thuần là việc dạy học dựa trên máy tính và chưa có khái niệm rõ ràng. Sự ra đời của Internet vào năm 1970 và sự phát triển vượt bậc của hạ tầng CNTT cuối những năm 1990 giúp cho E-learning trở nên tương tác hơn. Đến năm 1998, thuật ngữ E-learning lần đầu tiên được Jay Cross xác lập trong một hội thảo công nghệ. Kể từ đó, các cụm từ mô tả về E-learning như “online learning” (học trực tuyến) hay “virtual learning” (học tập ảo) bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều [64].
Sau gần hai thập kỷ, có rất nhiều bài báo, sách, tham luận ở các hội nghị, hội thảo nghiên cứu về hiệu quả bồi dưỡng NLTH của E-learning. Herrington & Oliver [89], cho biết E-learning hỗ trợ xây dựng kiến thức mới, cải tiến các kiểu tương tác GV và HS, giữa các HS với nhau hiệu quả thông qua các công cụ truyền thông, hướng dẫn, huấn luyện và phản hồi. Anderson & Elloumi, Rovai, Woo & Reeves khẳng định rằng nhờ E-learning mà việc thảo luận và làm việc theo nhóm có thể góp phần phát triển môi trường học tập hợp tác [57], [75]. Một số nghiên cứu như của Arafeh, Guri- Rosenblit, Trucano, Zemsky & Massy [59], [83] khẳng định E-learning giúp chuyển đổi các quá trình DH từ GV đóng vai trò chủ đạo sang HS làm trung tâm và sự chuyển đổi này sẽ giúp HS phát triển các kĩ năng như GQVĐ, tiếp nhận và xử lý thông tin, sáng tạo và tư duy bậc cao, được bồi dưỡng NLTH.