Đặt vấn đề Quản lý sử dụng đất là nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà nước về đất đai, được thực hiện đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Với yêu cầu của việc quản lý là phải nắm vững hiện trạng sử dụng đất và kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì việc sử dụng các tờ bản đồ địa chính trong công tác quản lý là vô cùng quan trọng. Bản đồ địa chÝnh là bản đồ chuyên ngành đất đai, là tài liệu quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Nã làm cơ sở cho việc đăng ký, thống kê, lập và hoàn thiện hồ sơ địa chÝnh, quy hoạch sử dụng đất, là cơ sở pháp lý cho việc giao đất, thu hồi đất và xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra bản đồ địa chÝnh còn phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất đai và làm cơ sở tài liệu cơ bản để xây dựng các loại bản đồ chuyên đề khác. Chính vì vậy việc xây dựng bản đồ địa chÝnh là một nhiệm vụ quan trọng mang tÝnh cấp thiết trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Hiện nay, ở Thái Nguyên vẫn còn nhiều địa phương chưa được đo vẽ bản đồ địa chính, mà hệ thống bản đồ giải thửa và bản đồ khác như bản đồ đo đất chè, bản đồ đo đất lâm nghiệp được đo đạc từ những năm 1980 đã cũ, không còn phù hợp nhưng vẫn đã và đang phải sử dụng, gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý đất đai. Trong những năm qua UBND tỉnh Thái Nguyên đã quan tâm đến công tác đo đạc bản đồ và lập hồ sơ địa chính nhằm giúp cho công tác quản lý đất đai được hoàn thiện và chính xác hơn.
Năm 2006 Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã ra quyết định số 115/QĐ-UBND ngày 17/8/2006 “Về việc phê duyệt TKKT-DT xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính khu vực bắc Định Hoá, nam Đại Từ, Phú Lương và thị trấn Sông Cầu huyện Đồng hỷ”. 2 Xã Lục Ba thuộc Huyện Đại Từ là một trong những xã chưa có bản đồ địa chính và nằm trong diện được đo vẽ địa chính theo Quyết định 115 nói trên, nhằm từng bước hoàn thiện hồ sơ địa chính, giúp công tác quản lý nhà nước về đất đai được tốt hơn. Xuất phát từ thực tế nêu trên, được sự nhất trí, phân công của BCN Khoa Tài nguyên & Môi trường dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.s Nguyễn Đình Thi, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng công nghệ tin học thành lập bản đồ địa chÝnh từ số liệu đo đạc tại xã Lục Ba - huyện Đại Từ. Mục đích nghiên cứu - Xây dựng lưới khống chế đo vẽ và đo vẽ chi tiết bản đồ địa chính bằng máy toàn đạc điện tử.
- Từ số liệu đo đạc sử dụng công nghệ tin học trên cơ sở ứng dụng phần mềm Microstation, Famis thành lập bản đồ địa chÝnh. - Tạo ra các loại sản phẩm: Bản đồ địa chÝnh, hồ sơ kỹ thuật thửa đất phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai. Mục tiêu nghiên cứu - Thành lập bản đồ địa chính tại xã Lục Ba theo quy phạm do Bộ Tài Nguyên và Môi Trường ban hành. - Sử dông số liệu đo đạc biên tập theo kế hoạch.
Đánh giá kết quả đo đạc, biên tập bản đồ theo quy định trong quy phạm thành lập bản đồ. Ý nghĩa của đề tài - Giúp sử dụng thành thạo các phương pháp nhập số liệu, xử lý các số liệu đo đạc, quy trình thành lập bản đồ địa chÝnh từ số liệu đo đạc. - Sản phẩm phải cã độ chÝnh xác cao theo yêu cầu trong quy phạm thành lập bản đồ địa chÝnh. 3 - Bản đồ địa chÝnh và một số sản phẩm nhận được cã khả năng giao diện với các phần mềm chuyên dụng khác để phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai một các thống nhất và cã hiệu quả cao.
4 Phần 2 Tổng quan tài liệu 2. Tổng quan về bản đồ địa chính 2. Khái niệm về bản đồ địa chÝnh “Bản đồ địa chÝnh là tên gọi cho bản đồ được biên tập, biên vẽ từ bản đồ địa chÝnh cơ sở theo từng đơn vị hành chÝnh xã, phường, thị trấn trong đã yếu tố phản ánh chÝnh là thửa đÊt, được thể hiện đầy đủ chÝnh xác về hình thể, vị trÝ, kÝch thước, loại đất. Bản đồ địa chÝnh được lập theo đơn vị hành chÝnh xã và cấp tương đương.
Bản đồ địa chÝnh cơ sở là tên gọi chung của bản đồ gốc được đo vẽ bằng các phương pháp trực tiếp ngoài thực địa, đo vẽ bằng các phương pháp chụp từ máy bay kết hợp với đo vẽ bổ xung ngoài thực địa hay được thành lập trên cơ sở biên tập, biên vẽ từ bản đồ địa hình cùng tỷ lệ đã có. Các yếu tố nội dung biểu thị trên bản đồ địa chÝnh phải tuân theo các quy định cụ thể, chi tiết trong bộ “Ký hiệu bản đồ địa chÝnh” do Tổng cục Địa chÝnh (nay là Bộ TN&MT) ban hành. Các yếu tố nội dung bản đồ được thể hiện phải đạt độ chÝnh xác cao về khoa học tự nhiên, vừa phù hợp về mặt kinh tế, xã hội và cã cơ sở pháp chế chÝnh quy do cấp cã thẩm quyền phê duyệt, phải mang tÝnh chất liên tục và chỉnh lý kịp thời nhằm nắm chắc biến động đất đai ở từng thời điểm xác định. Đáp ứng các yêu cầu này, năm 2005 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành quy phạm thành lập bản đồ địa chính sè 08/2005/QĐ-BTNMT ngày 10/11/2005.
Đây là quy phạm thay cho quy phạm do Tổng cục Địa chính trước đây ban hành năm 1999. Cơ sở toán học của bản đồ địa chính 2. Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia Để đáp ứng yêu cầu về quản lý đất đai, bản đồ địa chÝnh trên toàn lãnh thổ phải được thống nhất về cả cơ sở toán học và độ chÝnh xác. Muốn vậy phải xây dựng lưới tọa độ thống nhất và chọn hệ quy chiếu phải đặc biệt ưu tiên giảm nhỏ đến mức cã thể ảnh hưởng biến dạng của phép chiếu đến độ chÝnh xác của đo đạc.
Ta phải xây dựng lưới chiếu cho phù hợp là nội dung quan trọng trong thành lập bản đồ, đáp ứng được yêu cầu sử dụng đồng thời cã thể ghÐp nhiều mảnh bản đồ lại với nhau mà vẫn giữ được tÝnh nhất quán. Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia là cơ sở toán học mà mỗi quốc gia nhất thiết phải cã để thể hiện thống nhất và chÝnh xác các dữ liệu đo đạc bản đồ phục vụ quản lý biên giới quốc gia, quản lý nhà nước về địa giới hành chÝnh lãnh thổ. Hệ quy chiếu và tọa độ quốc gia còn đãng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học về trái đất trên phạm vi cả nước cũng như khu vực và toàn cầu. Trước đây bản đồ địa chÝnh được thành lập trên mặt phẳng chiếu vuông gãc Gauss-Kruger với mói chiếu 30, sử dụng Elipxit Kravoski( R = 6378245, r = 6356863, α = 1:298,3).
Kinh tuyến gốc(0 0) được quy ước là kinh tuyến đi qua GRINUYT. Điểm gốc của hệ tọa độ mặt phẳng X = 0 km, Y = 500 km, kinh tuyến trung ương là 105 0 đi qua Hà Nội. Kinh tuyến, vĩ tuyến hệ tọa độ, độ cao nhà nước 1972. Cơ sở khống chế mặt bằng của bản đồ địa chÝnh là hệ tọa độ các cấp (I,II,III,IV), lưới địa chÝnh cơ sở, lưới địa chÝnh cấp I,II.
Trên cơ sở các điểm tọa độ này phát triển khống chế đo vẽ tam giác nhỏ hoặc đường chuyền kinh vĩ cấp 1,2. Cho đến nay hệ quy chiếu quốc gia HN-72 không đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật mà thực tế đang đòi hỏi vì các lý do sau đây: 6 1. Hệ quy chiếu quốc gia HN-72 là hệ quy chiếu chung cho các nước xã hội chủ nghĩa trước đây không phù hợp với lãnh thổ Việt Nam, cã sự chênh lệch giữa mô hình quản lý và mô hình toán học quá lớn. Từ đó tạo biến dạng lớn làm giảm độ chÝnh xác của lưới tọa độ và bản đồ.
Hiện nay các các nước xã hội chủ nghĩa đã thay đổi hệ quy chiếu quốc gia của mình, không sử dụng hệ quy chiếu trước đây vì hệ quy chiếu quốc gia HN-72 không tạo được liên kết khu vực. Hệ quy chiếu quốc gia HN-72 không tạo điều kiện thuận lợi để phát triển công nghệ định vị toàn cầu GPS mà hiện nay đã phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam. Sử dụng hệ quy chiếu HN-72 gây hậu quả suy giảm độ chÝnh xác định vị và tạo một quy trình công nghệ phức tạp khi xử lý toán học các trị đo GPS. Hệ quy chiếu HN-72 gây khã khăn đáng kể trong việc liên kết với quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề về hoạch định biên giới, đường dẫn hàng không, hàng hải.
Hệ tọa độ quốc gia hiện nay bị chia cắt thành nhiều khu vực nhỏ, thiếu tÝnh thống nhất trên địa bàn cả nước cã độ chÝnh xác không đủ đáp ứng yêu cầu của thực tế quản lý hành chÝnh, điều hành kinh tế, và đảm bảo an ninh quốc phòng. ChÝnh vì vậy, hệ quy chiếu quốc gia HN-72 không đáp ứng được yêu cầu mà thực tế đòi hỏi nên cần phải xây dựng hệ tọa độ quốc gia mới. Hệ tọa độ quốc gia phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Thống nhất trên địa bàn toàn quốc. - Độ chÝnh xác cao nhất trên cơ sở hợp với trị đo hiện tại là chủ yếu, khi cần thiết kế cã thể bổ sung không đáng kể.
- Tạo điều kiện sử dụng những phương pháp xử lý toán học hiện đại theo phương án để cã kết quả tin cậy tuyệt đối. 7 Hiện nay, các nước trong khu vực Đông Nam Á đều đã thay đổi hệ quy chiếu quốc gia phù hợp với đặc điểm của từng nước. Ở Việt Nam theo quyết định số 83/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng ChÝnh phủ về việc áp dụng hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000 sử dụng ELIPXOIT WGS-84 toàn cầu. - Điểm gốc tọa độ quốc gia điểm N00 (điểm gốc của lưới GPS cấp “0”) đặt trong khuôn viên Viện Nghiên cứu Địa chÝnh (nay là Viện khoa học Đo đạc và bản đồ) thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, đường Hoàng Quốc Việt – Hà Nội - Lưới chiếu tọa độ phẳng: lưới chiếu UTM quốc tế.
- Chia mói và phân mảnh hệ thống hiện hành cã chó thÝch danh pháp quốc tế.