Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Công nghệ thông tin và các ứng dụng trong y tế và quản lý bệnh viện. Định nghĩa công nghệ thông tin Công nghệ thông tin (CNTT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để thu thập, truyền, xử lý, chuyển đổi, lưu trữ và bảo vệ thông tin. Hay nói một cách khác, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết của Chính phủ 49/CP ngày 04/08/1993 như sau: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội [18], 2.
ú ng dụng công nghệ thông tin trong y tế 2. Trên thế giới CNTT là một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật to lớn của thế giới, đã và đang giúp thay đổi toàn diện và hiệu quả tất cả mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, chính trị, quân sự và đời sống. trong đó có lĩnh vực y tế. CNTT phát triển nhanh chóng đã giúp ngành y tế đạt được nhiều thành tựu lớn lao trong công tác khám chữa bệnh và quản lý bệnh viện hiện đại.
CNTT y tế đã phát triển theo các chức năng là: -Nâng cao kiến thức chuyên môn: Sử dụng thông tin từ các website y học, forum, sách điện tử, video, bài giảng từ xa. giúp cập nhật kiến thức và san bang khoảng cách kiến thức giữa các vùng địa lý. Nhân viên y tế dù ở vùng sâu vùng xa cũng dễ dàng tiếp cận kiến thức, kỹ thuật y tế mới nhất thông qua hệ thống internet. Bác sĩ tại các nước đang phát triển cũng có thể dễ dàng tiếp cận, cập nhật các kiến thức mới nhất của các nước tiên tiến [11].
- Tự động hóa các phương tiện chan đoán và điều trị: Máy móc xét nghiệm ngày nay hoàn toàn tự động hóa, tiết giảm thao tác, nâng cao độ chính xác xét nghiệm. Các máy móc chẩn đoán hình ảnh đã ứng dụng các kỹ thuật dựng hình 5 để bộc lộ hình ảnh bệnh lý 3 chiều, phục vụ chẩn đoán và điều trị ngoại khoa. Kỹ thuật nội soi giúp can thiệp điều trị một cách hiệu quả và tiết giảm chi phí.[l 1] - Hỗ trọ’ đắc lực trong thực hành y khoa: CNTT mang lại nhiều lợi ích trong thực hành y khoa, đã được chứng minh trong thực tế như giảm thiểu tử vong do sai lầm y khoa, giúp bác sĩ quyết định lâm sàng nhanh chóng và chính xác, hỗ trợ y tế từ xa (telemedicine), lưu trữ và phân tích số liệu cho nghiên cứu khoa học. [11] - Tăng cường chức năng quản lý bệnh viện: Toàn bộ thông tin bệnh viện được sắp xếp, tổ chức một cách khoa học, làm cơ sở cho công tác quản lý bệnh viện một cách hiệu quả [11], Cho đến nay, CNTT và truyền thông trong y tế đã phát triển không ngừng.
Các thông tin có sẵn ngày càng nhiều hơn và phong phú hơn, đáp ứng nhu cầu cho sổ người truy cập ngày một tăng hơn. đặc biệt là các bệnh viện đại học và viện nghiên cứu. Tại đất nước khai sinh ra ngành CNTT như nước Mỹ, năm 2002 tổng thống Mỹ G. Bush đã xác định đến năm 2014 toàn dân Mỹ có được cấp mã số sức khỏe, nối mạng bệnh viện toàn quốc.
Năm 2008 tổng thống Obama ngay những ngày đầu nhậm chức đã kêu gọi ứng dụng CNTT trong cải cách y tế. Các nước tiên tiến như Anh, úc, Canada là những nước đặc biệt chú trọng đầu tư chi phí vào CNTT y tế vì thấy được tầm quan trọng của sức khỏe nhân dân đồng thời tiết kiệm được nhiều chi phí so với không ứng dụng CNTT. New Zealand được xem là nước có ứng dụng CNTT trong y tế tốt nhất hiện nay. Các nước trên thế giới đã lên kể hoạch xây dựng chương trinh quốc gia về CNTT y tế để thích nghi với thời đại mới.
Tại khu vực Châu Á các nước tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore. cũng đã ứng dụng tốt CNTT trong quản lý bệnh viện. Hiện nay thế giới đã tiến đến ứng dụng “y tế di động” (M-Health), ứng dụng các phương tiện điện thoại di động, máy tính bảng để theo dõi và can thiệp vấn đề sức khỏe bệnh nhân từ xa [11], 2.2 Tại Việt Nam Tại Việt Nam, CNTT được đưa vào ứng dụng trong ngành y tế từ khá sớm Trong 20 năm qua, Bộ Y tế đã triển khai nhiều ứng dụng CNTT trong các hoạt động 6 của ngành y tế từ trung ương đến địa phương như cải cách hành chính, chỉ đạo điều hành công tác khám chữa bệnh, hoạt động y tế dự phòng, hệ thống đào tạo và nghiên cứu khoa học, hệ thống quản lý sản xuất, nghiên cứu và phân phối dược phẩm[14] Đến nay, Bộ Y tế đã thiết lập được một hệ thống tổ chức chỉ đạo về hoạt động CNTT từ cơ quan Bộ đến các đơn vị, đó là: - Ban chỉ đạo CNTT y tế do Bộ trưởng làm trưởng ban và thứ trưởng là Phó trưởng ban thường trực, Văn phòng ban chỉ đạo đặt tại Vụ Khoa học và đào tạo là cơ quan giúp việc Ban chỉ đạo để tham mưu cho Bộ các ứng dụng CNTT trong ngành. Vụ Khoa học đào tạo làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước về CNTT trong ngành.
- Văn phòng Bộ Y tế chịu trách nhiệm quản lý cổng thông tin điện tử và quản lý mạng nội bộ (LAN) của cơ quan Bộ. - Trung tâm Tin học có nhiệm vụ tư vấn, nghiên cứu, đào tạo và triến khai ứng dụng CNTT ngành y tế. Đến tháng 4/2010, nhiệm vụ này được chuyển giao cho Viện Công nghệ thông tin - Thư viện y học Trung ương. - Các cơ sở trực thuộc Bộ, các Sở y tế, các bệnh viện đã và đang hình thành hệ thống tổ chức chuyên trách CNTT.
Theo sự phát triển kinh te xã hội ngày càng tăng, các bệnh viện Việt Nam đã dần dần được trang bị nhiều thiết bị y te hiện đại như máy xét nghiệm tự động, máy siêu âm 3D, 4D, X quang kỳ thuật số, máy chụp cắt lófp, cộng hưởng từ, PET-CT. giúp nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị. Thiết bị y tế hiện đại đã giúp khám và điều trị hiệu quả các bệnh khó. Nhờ các thiết bị này, y tế Việt Nam đã bắt kịp trình độ y tế trong khu vực [11][16][17].
Các bác sĩ Việt Nam ngày nay đã hầu hết đã biết sử dụng máy tính, thích nghi được với CNTT, sử dụng internet để tự nâng cao kiến thức chuyên môn và ứng dụng trong khám chữa bệnh. Mặc dù chính phủ Việt Nam đã có nhiều chủ trương khuyến khích ứng dụng CNTT trong quản lý, hướng tới chính phủ điện tử và Bộ y tế đã ra nhiểu chỉ thị thúc đẩy ứng dụng CNTT trong quản lý y tế, tuy nhiên hầu hết các bệnh viện vẫn còn chưa ứng dụng được CNTT trong quản lý vì không tìm được phần mềm đáp ứng đúng hoạt động của bệnh viện. Đã có những dự án trang bị CNTT cho bệnh viện như dự án HMIS, phần 7 mềm báo cáo Medisoft 2003 của Bộ y tế được triển khai hàng loạt năm 2004 nhưng đã thất bại [19], * Vai trò CNTT trong y tế và chăm sóc sức khỏe ở nước ta. Đối với hoạt động của ngành y tế, có thể thấy rằng, CNTT ngày càng đóng vai trò quan trọng, không chỉ là mũi nhọn cho quá trình cải cách hành chính trong công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý mà còn trở thành nền tảng cho việc triển khai và ứng dụng thành công các kỹ thuật cao trong khám chữa bệnh, thăm khám cho bệnh nhân qua hệ thống điện tử.
CNTT cũng đóng góp tích cực cho công tác giảng dạy, đào tạo, giám sát dịch bệnh, nghiên cứu phát triển thuốc nhằm nâng cao hiệu quả của công tác khám chữa bệnh và giảm chi phí thất thoát. Dưới tác động của công nghệ thông tin,lĩnh vực y tế ở nước ta đã đạt được nhiều thành quả như việc ứng dụng các hệ thông tin bệnh viện, các hệ trợ giúp làm quyết định lâm sàng, y học từ xa (telemedicine), thực tế ảo và xa lộ thông tin sức khỏe. do đó việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày càng tốt hơn [33], *Một số lình vực phát triển công nghệ thông tin Y tế ở Việt Nam Các hệ thông tin bệnh viện - là hạ tầng cơ sở để chia sẻ thông tin sức khỏe quốc gia tương lai và hòa mạng. Các hệ thông tin sức khỏe công cộng - dùng cho y tế dự phòng và báo cáo dữ liệu dịch tễ.
Các hệ thông tin lâm sàng - trợ giúp bác sĩ trong chẩn đoán và điều trị. Các hệ thông tin y học cổ truyền dân tộc - lưu trữ các thông tin về cây thuốc, bài thuốc. Các hệ thông tin răng hàm mặt - trợ giúp việc quản lý dữ liệu, thông tin bệnh nhân răng hàm mặt. Các hệ thông tin dược học - dùng cho việc viết đơn và phân phối thuốc.
Các hệ thống kê sức khỏe và sinh học - thu thập, lưu trữ các số liệu thống kê về hoạt động sức khỏe và sinh học.Mạng thông tin sức khỏe quốc gia- truyền các thông tin sức khỏe ngành y tế. Mạng quản lý ảnh và sức khỏe từ xa - lưu trữ ảnh y học và dùng cho việc chẩn đoán, phân tích ảnh bàng máy tính [33]. CNTT được đưa vào ứng dụng trong ngành y tế từ rất sớm, trong những năm qua Bộ Y tế đã có nhiều ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực hoạt động của ngành y tế như cải cách hành chính, chỉ đạo điều hành công tác khám chữa bệnh; hoạt động y tế dự phòng; hệ thống đào tạo và nghiên cứu khoa học; hệ thống quản lý sản xuất, 8 nghiên cứu và phân phối dược phẩm; công tác đào tạo. Đen nay, 100% tuyến Trung ương bao gồm các Vụ, Cục, Tổng cục, Thanh Tra Bộ, Văn phòng Bộ, các bệnh viện, các trường đại học, cao đẳng, các viện nghiên cứu trực thuộc bộ, sở y tế 63 tỉnh/thành phố.thực hiện tin học hóa trong hoạt động.
Từ năm 2004 ngành y tế đã có cổng thông tin điện tử nhằm cung cấp kịp thời cho bạn đọc những văn bản của nhà nước, của ngành, đồng thời đã xây dựng các chuyên mục hướng tới nền hành chính điện tử ngành y tế.