Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong thành phố. Chương II: Phân tích đánh giá quản lý hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Công ty TNHH một thành viên Xe khách Sài Gòn. Chương III: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Công ty TNHH một thành viên Xe khách Sài Gòn. 4 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TRONG THÀNH PHỐ.
Khái niệm quản lý và quản lý kinh doanh Thuật ngữ quản trị và quản lý: Quản trị tiếng Anh là Management, vừa có nghĩa là quản lý vừa có nghĩa là quản trị, nhưng được dùng chủ yếu với nghĩa quản trị. Ngoài ra tiếng Anh còn dùng một thuật ngữ khác nữa là Administration với nghĩa là quản lý hành chính, quản lý chính quyền. Tiếng Pháp cũng có 2 từ ngư tương đương: Gestion (tương đương với từ Management của tiếng Anh) là quản trị kinh doanh, còn Administration trong tiếng Anh cũng là quản lý các hành động hành chính, chính quyền. Như vậy có thể tạm coi quản lý là thuật ngữ được dùng với các cơ quan Nhà nước trong việc quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng, còn giá trị là thuật ngữ được dùng đối với cấp cơ sở trong đó các tổ chức kinh doanh - các doanh nghiệp.
Quản trị và quản lý là logic giống nhau của vấn đề quản lý, nhưng điểm khác là nội dung và quy mô cụ thể của vấn đề quản lý đặt ra một bên là phạm vị cả nước, một bên là phạm vi từng cơ sở. Khái niệm quản lý Quản lý là một khái niệm có hàm xác định song lâu nay thường có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng thuật ngữ khác nhau. Thực chất của quản lý là gì? (hoặc quản lý trước hết, chủ yếu là gì? ) cũng có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên với sự phát triển của khoa học, quản lý đã cơ bản được làm sáng tỏ để có một cách hiểu thống nhất.
Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. 5 Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất. Quản lý bao gồm các yếu tố: + Phải có một chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra tác động quản lý và một một đối tượng bị quản lý. Đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận và thực hiện tác động quản lý.
Tác động quản lý có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần. + Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng. Mục tiêu này là căn cứ chủ yếu để tạo ra các tác động. Chủ thể quản lý có thể là một người, nhiều người.
Còn đối tượng bị quản lý có thể là người hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, thông tin, hầm mỏ.) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng.) Từ những khái niệm nêu trên ta thấy đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản lý là những con người trong tổ chức; thông qua đó tác động lên các yếu tố vật chất (vốn, vật tư, công nghệ) để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hành động. Vì vật khi xét về thực chất, quản lý trước hết và chủ yếu là quản lý con người (trong bất cứ hành động nào). Xác định như vậy để thấy con người là yếu tố quyết định trong mọi hành động, hoàn toàn không có nghĩa là nội dung các chức năng quản lý nhân sự (một bộ phận trọng yếu của quản lý). Điều này đã được nhiều nhà khoa học quản lý nhấn mạnh qua cách thể hiện như: "Quản lý là một quá trình làm cho những hành động được hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua những người khác (S.Robbing) và "Các nhà quản lý có trách nhiệm duy trì các hành động làm cho các cá nhân có thể đóng góp tốt nhất và các mục tiêu của nhóm" (H.) Các chức năng quản lý Để quản lý, chủ thể quản lý phải thực hiện nhiều loại công việc khác nhau.
Những loại công việc quản lý này được gọi là các chức năng quản lý. 6 Như vậy các chức năng quản lý là những công việc quản lý khác nhau mà chủ thể quản lý (các nhà quản lý) phải thực hiện trong quá trình quản lý một tổ chức. Phân tích chức năng quản lý nhằm trả lời câu hỏi: các nhà quản lý phải thực hiện các công việc gì trong quá trình quản lý? Có nhiều ý kiến khác nhau về sự phân chia các chức năng trong quá trình quản lý. Vào những năm 1930, Gulick và urwich nêu lên 7 chức năng của quản lý trong từ viết tắt POSDCORB: P: Planning - lập kế hoạch, O: organnizing - tổ chức, S: Staffing - Quản trị nhân sự, D: Directing - chỉ huy, CO: Coordinating - phối hợp, R: Reviewing - kiểm tra, B: Budgeting - tài chính.
Herni Fayol nêu 5 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra. Trong những năm 60, Koontx và O'Donnell nêu 5 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, quản trị nhân sự, điều khiển và kiểm tra. Cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, giữa các giáo sư đại học Mỹ cũng không có sự thống nhất về cách thức phân chia các chức năng quản trị, James Stoner chia thành 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Cũng tương tự như thế, Stephen Ropbbin chia thành 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra.
Andang và Stearns chia thành 4 chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức và quản trị nhân sự, điều khiển và kinh tế. Các chức năng như lập kế hoạch. Tổ chức, điều hành, kiểm tra và điều chỉnh là phổ biến đối với mọi nhà quản trị, dù đó là tổng giám đốc một Công ty lớn, hiệu trưởng một trường đại học, trưởng phòng chuyên môn trong một cơ quan, hay tổ trưởng một tổ gồm 5 - 7 công nhân. Có thể nói, các chức năng quản lý trên đây chung nhất đối với mọi nhà quản lý, không phân biệt cấp bậc, ngành nghề, quy mô lớn nhỏ của tổ chức và môi trường xã hội, dù ở Mỹ, Nhật hay Việt Nam.
Dĩ nhiên, phổ biến hay chung nhất không có nghĩa là đồng nhất. ở những tổ chức khác nhau, những cấp bậc khác nhau, có sự khác nhau về mức độ và sự quan tâm cũng như phương thức thực hiện các chức năng chung này. Quản lý kinh doanh và quản lý doanh nghiệp Một doanh nghiệp cần phải được quản lý, quản lý này được gọi là quản lý kinh doanh. Quản lý kinh doanh là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ doanh nghiệp lên tập thể những người lao động trong doanh nghiệp.
Sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội để thực hiện một cách tốt nhất mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đạt mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội. Thực chất của quản lý kinh doanh Xét về mặt tổ chức và kỹ thuật của hoạt động quản lý, quản lý chính là sự kết hợp của mọi nỗ lực của con người trong doanh nghiệp để đạt tới mục dích chung của doanh nghiệp và mục tiêu riêng của mỗi người một cách khôn khéo và có hiệu quả nhất. Quản lý ra đời chính là để tạo ra hiệu quả hoạt động cao hơn hẳn so với lao động của từng cá nhân riêng rẽ trong cùng một nhóm người, khi họ tiến hành các hoạt động lao động chung. Nói một cách khác, thực chất của quản lý kinh doanh là quản lý con người trong doanh nghiệp, thông qua đó, sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động kinh doanh theo mục tiêu đã định.
Bản chất của quản lý kinh doanh Xét về mặt kinh tế xã hội của quản lý, quản lý doanh nghiệp là vì mục tiêu lợi ích của doanh nghiệp, bảo đảm cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển lâu dài, trang trải vốn và lao động, bảo đảm tính độc lập và cho phép thoả mãn những đòi hỏi xã hội của chủ doanh nghiệp và của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Mục tiêu của doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp đề ra, họ là chủ sở hữu của doanh nghiệp và là người nắm giữ quyền lực doanh nghiệp. Nói một cách khác, bản chất của quản lý kinh doanh tuỳ thuộc vào chủ sở hữu của doanh nghiệp. Chính bản chất của kinh doanh xã hội chủ 8 nghĩa khác kinh doanh tư bản chủ nghĩa, cho nên nó phải có thêm câu hỏi "sản xuất cái đó để làm gì" rõ ràng các doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa có thể sản xuất băng hình "con heo", còn với doanh nghiệp xã hội chủ nghĩa thì Nhà nước không cho phép làm điều đó.
Quản lý kinh doanh mang tính khoa học, tính nghệ thuật và là một nghề. - Quản lý kinh doanh mang tính khoa học Tính khoa học của quản lý kinh doanh xuất phát từ tính quy luật của các quan hệ quản lý trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, baogồm những quy luật về kinh tế, kinh doanh kỹ thuật, xã hội. Những quy luật này nếu được các nhà quản lý nhận thức và vận dụng trong quá trình quản lý doanh nghiệp sẽ giúp họ đạt kết quả mong muốn, ngược lại sẽ gánh chịu những hậu quả khôn lường. Tính khoa học của quản lý kinh doanh đòi hỏi các nhà quản lý trước hết phải nắm vững những quy luật liên quan đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Đó không chỉ là những quy luật kinh tế và kinh doanh, mà còn hàng loạt những loại quy luật khác như quy luật tâm lý- xã hội, quy luật kỹ thuật, đặc biệt là những quy luật quản lý. Nắm quy luật, thực chất là nắm vững hệ thống lý luận về kinh doanh và quản lý kinh doanh.