Đặt vấn đề Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm: Khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy.), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (sau nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa. Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất), theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác) giữa vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người. Luật đất đai năm 1993 cũng đã khẳng định đất đai: - Là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá; - Là tư liệu sản xuất đặc biệt; - Là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống; - Là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Đất đai giữ vị trí và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất, là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao động và nơi sinh tồn của xã hội loài người.Ngoài ra hiện tượng xói mòn đất, thoái hoá đất và sa mạc hoá ngày càng diễn ra nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu nói chung và Việt 2 Nam nói riêng.
Đất đai còn là thành quả cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Cho nên vì thế thế hệ hôm nay và cả các thế hệ mai sau chúng ta phải đoàn kết để sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai cũng như bảo vệ chúng khỏi nguy cơ thoái hoá đang ngày một rõ rệt như hiện nay. Đất đai không chỉ là tài nguyên thiên nhiên ban tặng mà còn là xương máu của cha ông, thành quả của cuộc đấu tranh cách mạng để gìn giữ, bảo vệ của những người thế hệ đi trước. Cho nên là thế hệ con cháu đời sau chúng ta càng phải biết cùng nhau chung tay, đoàn kết, tuyên truyền sử dụng đất đai một cách hợp lý và đạt hiệu quả tài nguyên đất đai cũng như đồng lòng chung tay góp sức bảo vệ chúng để chúng không bị trở nên ngày một xói mòn, suy thoái rõ rệt như hiện nay.
Những công việc thường thấy ở trong ngành đo đạc, quản lý đất đai như công tác đo đạc bản đồ hay thành lập bản đồ hồ sơ địa chính hay cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân tuy là công việc phổ biến nhưng ở tỉnh Bắc kạn với các tỉnh khác đây luôn là vấn đề, nhu cầu cấp thiết của ngành địa chính trong nước và luôn là chủ trương lớn quan trọng của đảng. Hiện nay dưới những hoạt động, tác động của loài người đã trực tiếp ảnh hưởng đến thiên nhiên nói chung và đất đai nói riêng đã có những sự biến động và những thay đổi biến chuyển của tự nhiên làm cho đất đai có những tác động gây nên sự biến đổi không ngừng. Là nguồn thông tin, cơ sở dữ liệu để cung cấp các thông tin mà người quản lý cũng như người sử dụng đất cần tìm nên bản đồ địa chính mang tính pháp lý rất cao. Bản đồ địa chính có vai trò vô cùng quan trọng nên nó góp phần rất lớn đến bảo vệ quỹ đất đai cũng như trong quá trình phục vụ tốt hơn trong ngành quản lý đất đai.
Dưới sự chỉ đạo của phòng quản lý các dự án đo đạc và bản đồ của công ty Cổ Phần Khảo Sát thiết kế và Đo Đạc Bản Đồ Việt Nam đã tổ chức 3 khảo sát, thu nhập tài liệu nhằm phục vụ cho công việc đo đạc bản đồ địa chính cũng như thành lập hồ sơ địa chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà cửa và tài sản gắn liền trên mảnh đất thuộc xã Hà Hiệu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn quyết định tiến hành xây dựng hệ thống bản đồ địa chính cho bà con nói chung cũng như các xã, phường trên địa bàn nói riêng sau khi đã được sự cho phép đồng ý của sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Bắc Kạn. Dưới sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy giáo Th.Nguyễn Lê Duy em tiến hành nghiên cứu đề tài : “Ứng dụng công nghệ gps, tin học và các phần mềm chuyên ngành trong công tác thành lập mảnh bản đồ địa chính tờ số 54 tỷ lệ 1/1000 xã Hà Hiệu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn năm 2021”. Với nhu cầu và tình hình cấp thiết của công việc trong xây dựng bản đồ địa chính cho toàn bộ khu vực xã hà hiệu với sự phân công, cũng như sự giúp đỡ từ phía ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên và sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình chỉ đạo của công ty Cổ Phần Khảo Sát Thiết kế và Đo Đạc Bản Đồ để cho em có thể thực hiện nghiên cứu và công tác trong quá trình nghiên cứu đề tài hoàn thiện nhất. - Tiến hành thực hiện công tác đo vẽ chi tiết và biên tập tờ bản đồ địa chính số 54 tỉ lệ 1:1000 tại xã Hà Hiệu, sử dụng phương pháp công nghệ máy móc tin học và máy GNSS vào thành lập lưới khống chế đo vẽ.
- Sử dụng các hệ thống phần mềm trắc địa, sử dụng máy GNSS trong quá trình triển khai công tác nhằm nghiên cứu và sự dụng công nghệ tin học để trong quá trình công tác thành lập bản đồ địa chính lẫn công tác quản lý cơ sở dữ liệu đất đai của xã Hà Hiệu. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá những điều kiện tự nhiên cơ bản kinh tế - xã hội của xã Hà Hiệu. - Đối tờ bản đồ địa chính số 54 xã Hà Hiệu tiến hành thành lập lưới 4 khống chế đo vẽ. - Từ số liệu đo vẽ chi tiết cho xã Hà Hiệu tiến hành thành lập mảnh bản đồ địa chính tờ số 54.
- Ứng dụng công nghệ tin học và máy GNSS vào thành lập lưới khống chế đo vẽ, đo vẽ chi tiết và biên tập tờ bản đồ địa chính số 54 tỉ lệ 1:1000 tại xã Hà Hiệu. - Nghiên cứu khả năng ứng dụng của công nghệ tin học bao gồm hệ thống phần mềm Trắc địa, máy GNSS trong công tác thành lập bản đồ địa chính và quản lý cơ sở dữ liệu tài nguyên đất xã Hà Hiệu. Ý nghĩa của đề tài - Trong quá trình học tập trong đợt đi thực tập cũng như trong quá trình làm và nghiên cứu đề tài. + Trong quá trình thực tập tốt nghiệp đây là một quá trình rất tốt, mang tính phát triển cũng như củng cố lại những kiến thức đã được nắm ở nhà trường đồng thời sẽ được áp dụng trong thực tiễn cụ thể là công việc đồng thời bổ sung thêm những kiến thức ngoài chưa được học, tính lũy kinh nghiệm trong công việc.
- Trong thực tiễn. + Công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính về đất đai sau khi trải qua quá trình nghiên cứu tìm hiểu và ứng dụng với máy đo đạc điện tử sẽ giúp đỡ cho quá trình công tác sẽ được thúc đẩy nhanh hơn, đầy đủ hơn và về độ chính xác cũng như hiệu quả được tốt hơn cải thiện hơn. + Theo quy định, điều luật của bộ tài nguyên và môi trường thì việc công nghệ hóa, hiện đại hóa hệ thống hồ sơ địa chính sẽ góp phần tích cực cho việc phục vụ tốt hơn cho việc đo vẽ chi tiết giúp cho trong quá trình thành lập bản đồ địa chính trở nên hoàn thiện hơn, nhanh hơn, đẩy cao tiến triển 5 cũng như cải thiện về độ chất lượng. 6 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Khái quát về bản đồ địa chính Các bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố liên quan mật thiết liên quan đến phường, xã, tỉnh, thị trấn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đó chính là bản đồ địa chính. Bản đồ địa chính là nguồn tài liệu quan trọng cũng như là cơ bản nhất trong bộ hồ sơ của địa chính, vì nó thể hiện rõ rệt toàn bộ các yếu tốt thông tin cần tìm kiếm trên bản đồ của một huyện, xã, tỉnh thể hiện tính chất chung của một mảnh bản đồ mang tính địa lý như xác định được vị trí cụ thể của địa vật, địa hình khu vực cần tìm kiếm, tính về mặt kinh tế vị trí cũng như mục đích sử dụng của mảnh đất.Tính pháp lý bản đồ địa chính còn thể hiện rất rõ trong hồ sơ địa chính. Đặc biệt tính chất pháp lý của bản đồ địa chính mang tính pháp lý cao nhằm phục vụ đến quá trình quản lý chặt chẽ của từng chủ sở hữu, từng thửa đất.
Tự nhiên, kinh tế, pháp lý chính là các mặt quan trọng trong công tác địa chính. Ba mặt này có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau để làm nền địa chính nếu thiếu một trong ba yếu tố thì chưa đủ điều kiện để gọi là địa chính. Vai trò của bản đồ địa chính được dùng làm cơ sở để thực hiện một số nhiệm vụ trong công tác quản lý nhà nước về đất đai như: - Xác nhận hiện trạng tình hình về đất đai, địa giới hành chính xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh. - Xác nhận nắm rõ về hiện trạng, thể hiện biến động trên từng mảnh đất và phục vụ cho quá trình chỉnh lý biến động công tác đo đạc của từng thửa đất trong từng đơn vị hành chính xã.
7 Hai dạng cơ bản của bản đồ địa chính hiện nay với sự phát triển về điều kiện khoa học và công nghệ đó là bản đồ dạng giấy và bản đồ số địa chính. Loại bản đồ truyền thống có những tờ còn có thâm niên lâu được sử dụng và vẽ bằng tay thủ công cũng có những loại được in ấn hiện đại chính là bản đồ giấy, các thông tin đã được được thể hiện toàn bộ trên giấy nhờ hệ thống ký hiệu và ghi chú.