Đặt vấn đề Trắc địa là một khoa học phát triển từ rất lâu. Trong quá trình phát triển, con người đã không ngừng ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật để hoàn thiện các thiết bị đo đạc nhằm giảm bớt vất vả của công tác đo đạc và nâng cao độ chính xác của phép đo. Đó là giai đoạn chuyển dần các thiết bị quan cơ sang thiết bị đo đạc điện tử. Cũng trong thời gian này người ta đã ứng dụng khoa học vũ trụ vào lĩnh vực trắc địa.
Sự phát triển của hệ thống GPS và công nghệ thông tin đã đổi mới công nghệ đo đạc và thành lập bản đồ sang giai đoạn mới: hiện đại và chính xác hơn. Với những tính năng ưu việt của công nghệ GPS (Global Positioning System) như không đòi hỏi phải thông hướng ngắm giữa các điểm đo…. Vì vậy việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ GPS trong các lĩnh vực đặc biệt trong đo đạc thành lập bản đồ ngày cấp thiết. Bản đồ địa chính là cơ sở để thực hiện việc thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai như giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, làm cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.Vì vậy công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính là việc làm hết sức quan trọng và cấp bách hiện nay.
Xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã thành lập bản đồ từ năm 1997(HN72) và 2005 vì vậy hiện nay có nhiều biến động nên việc đo đạc thành lập bản đồ địa chính để phục vụ cấp GCN và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên là cần thiết. 1 Với những lý luận thực tiễn nêu trên, Em tiến hành thực hiện đề tài “Ứng dụng công nghệ GPS kết hợp phương pháp toàn đạc điện tử đo đạc thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/2000 trên địa bàn xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An” làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Ứng dụng công nghệ GPS kết hợp phương pháp toàn đạc điện tử đo đạc thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 địa bàn xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Nhằm phục vụ nhu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu của địa phương. Mục tiêu cụ thể Sử dụng thiết bị máy GPS đo động và máy toàn đạc điện tử tiến hành đo đạc thành lập bản đồ địa chính. Sử dụng phần mềm chuyên ngành biên tập thành lập bản đồ địa chính, biên tập kết quả đo đạc trên địa bàn. Các văn bản pháp luật quy định liên quan thành lập bản đồ địa chính.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các vấn đề bản đồ địa chính 1. Các khái niệm cơ bản về bản đồ địa chính Bản đồ địa chính: là bản đồ chuyên ngành đất đai, trên bản đồ thể hiện chính xác vị trí, ranh giới, diện tích và một số thông tin địa chính của từng thửa đất, từng vùng đất. Bản đồ địa chính còn thể hiện các yếu tố địa lý khác liên quan đến đất đai.
Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản nhất của hồ sơ địa chính, mang tính pháp lý cao phục vụ quản lý chặt chẽ đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất. Bản đồ địa chính khác với bản đồ chuyên đề thông thường ở chỗ bản đồ địa chính thường xuyên cập nhật các thay đổi hợp pháp của đất đai, có thể cập nhật hàng ngày hoặc theo định kỳ. Hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới người ta hướng đến xây dựng bản đồ địa chính đa chức năng. Vì vậy, bản đồ địa chính còn có tính chất của bản đồ cơ bản quốc gia.
Thửa đất: phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc được mô tả trên bản đồ địa chính. Ranh giới thửa đất trên thực địa được xác định bằng các cạnh thửa là tâm của đường ranh giới tự nhiên hoặc đường nối giữa các mốc giới hoặc địa vật cố định (là dấu mốc hoặc cọc mốc) tại các đỉnh liền kề của thửa đất; ranh giới thửa đất mô tả trên hồ sơ địa chính được xác định bằng các cạnh thửa là đường ranh giới tự nhiên hoặc đường nối giữa các mốc địa giới hoặc địa vật cố định. Hồ sơ địa chính: được lập chi tiết đến từng thửa đất của mỗi người sử dụng đất theo từng đơn vị hành chính cấp xã, gồm: BĐĐC (hoặc bản trích đo địa chính), sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ theo dõi biến động đất đai và bản lưu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các phương pháp thành lập bản đồ địa chính 1.
Phương pháp toàn đạc Phương pháp toàn đạc là phương pháp sử dụng máy toàn đạc điện tử trong đo góc, đo cạnh các điểm chi tiết và vẽ sơ họa sau đó sử dụng các phần mềm xử lý. Hiện nay phương pháp này được sử dụng phổ biến, tốc độ đo vẽ nhanh nhờ các thiết bị đo hiện đại. Khi thành lập các bản đồ địa chính tỷ lệ lớn (1:200, 1:500, 1:1000), khu vực đô thị có nhiều nhà cao che khuất (dùng ảnh hàng không khó xác định ranh giới thửa), đòi hỏi xác định ranh giới thửa với độ chính xác rất cao, hoặc thành lập bản đồ ở các tỷ lệ < 1:1000 (1:2000, 1:5000) mà không có ảnh hàng không, thì phải áp dụng phương pháp đo ảnh trực tiếp ở thực địa. Phương pháp này sử dụng máy toàn đạc hay máy kinh vĩ để đo nên thường được gọi là phương pháp toàn đạc, đây là phương pháp cơ bản để thành lập bản đồ địa chính.
Phương pháp biên tập từ bản đồ địa hình cùng tỷ lệ Để đáp ứng yêu cầu mau chóng có bản đồ phục vụ công tác quản lý đất đai. Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10.000 khu vực đất lâm nghiệp và đất đồi núi từ một số bản đồ đã có, chủ yếu là bản đồ địa hình tỷ lệ tương đương, gọi là tài liệu gốc đo vẽ. Trong phương pháp này nguồn tài liệu sử dụng làm gốc biên vẽ cần có chất lượng tốt và mới. Cần kết hợp dùng các tài liệu bổ sung như ảnh hàng không, vệ tinh, hoặc một số bản đồ chuyên ngành khác (bản đồ lâm nghiệp, bản đồ nông nghiệp).
Các yếu tố thửa đất được nhận biết từ các bản đồ tài liệu sau đã được đối soát, chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện qua điều tra, đo đạc thực địa. Phương pháp đo bằng công nghệ GPS Là hệ thống định vị toàn cầu gồm hệ thống các vệ tinh nhân tạo có quỹ đạo riêng kết hợp với thiết bị mặt đất cho phép người sử dụng xác định vị trí các điểm trên bề mặt trái đất. Tại vị trí cần xác định tọa độ yêu cầu phải thông thoáng, các phía không bị che khuất và số vệ tinh tối thiểu xuất hiện tại thời điểm là 4 vệ tinh. Phương pháp đo định vị toàn cầu (GPS) được áp dụng cho những khu đo có diện tích lớn.
Trong mục đích thành lập bản đồ địa chính, phương pháp này chỉ được coi là phụ trợ cho các phương pháp đã nêu ở trên. GPS cầm tay thường được áp dụng khi cần đo đạc bổ sung một số khu vực nhỏ, hoặc một số yếu tố có biến động so với bản đồ hoặc ảnh chụp ở thời điểm trước đó (ranh giới đất, nhà, đường xá, vị trí địa vật…) thích hợp với mục đích đo đạc biến động sử dụng đất trong thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Cơ sở toán học của bản đồ địa chính 1. Hệ quy chiếu Căn cứ vào quyết định số 08/2008/QĐ-BTNMT ngày 10 tháng 11 năm 2008, hệ quy chiếu của Việt Nam được quy định như sau: + Ê-líp-xô-ít quy chiếu quốc gia là ê-líp-xô-ít WGS-84 toàn cầu với kích thước: a.
Tốc độ góc quay quanh trục: ω = 7292115,0 x 10-11 (rad/s) d. Hằng số trọng trường trái đất: GM = 3986005 x 108 (m3 s-2) 5 + Điểm gốc hệ toạ độ Quốc gia: Điểm N 00 đặt tại Viện Nghiên cứu Địa chính (nay là Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ) thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, đường Hoàng Quốc Việt - Hà Nội. + Điểm gốc hệ độ cao Quốc gia: Điểm gốc độ cao đặt tại Hòn Dấu - Hải Phòng. Tỷ lệ bản đồ Chọn tỷ lệ đo vẽ bản đồ phải căn cứ vào mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác quản lý đất đai, giá trị kinh tế của thửa đất, mức độ khó khăn của từng khu vực, phương tiện, thiết bị và nguồn tài chính phù hợp.
Khu vực sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác: tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:2000 và 1:5000. Đối với khu vực sản xuất nông nghiệp mà phần lớn các thửa nhỏ, hẹp hoặc khu vực đất nông nghiệp xen kẽ trong khu vực đất đô thị, trong khu vực đất ở chọn tỷ lệ đo vẽ bản đồ là 1:1000 và 1:500. Khu vực đất phi nông nghiệp mà chủ yếu là đất ở và đất chuyên dùng: + Các thành phố lớn, các khu vực có thửa đất nhỏ hẹp, xây dựng chưa theo quy hoạch, khu vực giá trị kinh tế sử dụng đất cao, tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:200 hoặc 1:500. + Các thành phố, thị xã, thị trấn lớn, các khu dân cư có ý nghĩa kinh tế, văn hóa quan trọng tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:500 và 1:1000.
+ Các khu dân cư nông thôn tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:1000 và 1:2000. Chia mảnh và đánh số bản đồ địa chính a. Bản đồ tỷ lệ 1:200 Chia mảnh bản đồ địa chính 1:2000 thành 100 ô vuông, mỗi ô vuông có kích thước thực tế 0,10 x 0,10 km, tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính 6 tỷ lệ 1:200. Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200 là 50 x 50 cm, tương ứng với diện tích 1,00 ha ngoài thực địa.
Các ô vuông được đánh số thứ tự bằng chữ số Ả Rập từ 1 đến 100 theo nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200 bao gồm số hiệu mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000, gạch nối (-) và số thứ tự ô vuông. Bản đồ tỷ lệ 1:500 Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 thành 16 ô vuông, mỗi ô vuông có kích thước thực tế 0,25 x 0,25 km tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500.