Đặt vấn đề “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng”. Công tác quản lý đất đai mang tính chính trị, kinh tế và xã hội. Để Nhà nước quản lý thống nhất được đất đai theo quy định của pháp luật, có cơ sở pháp lý để bảo hộ quyền sử dụng hợp pháp của người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhất thiết phải có thông tin về đất đai. Ở nước ta, chính sách đất đai tương đối phức tạp, việc quản lý còn gặp nhiều khó khăn.
Từ khi đổi mới nền kinh tế đất nước đến nay, nhà nước đã liên tục ban hành và đổi mới luật đất đai: Luật đất đai đầu tiên năm 1987, luật đất đai năm 1993, luật sửa đổi bổ xung một số điều của luật đất đai năm 1993, 1998 và 2001, luật đất đai mới năm 2003 và các văn bản, thông tư, nghị định đi kèm để kịp thời nắm chắc, quản chặt quỹ đất hiện có của mình để định hướng sử dụng đất phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế đất nước phục vụ cho lợi ích quốc gia trong thời kỳ đổi mới. Việc cấp GCNQSD đất là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết hiện nay khi nhà nước giao đất ổn định lâu dài cho các đối tượng sử dụng đất. Đây là 1 trong 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai được ghi nhận tại Điều 6 Luật Đất đai 2003, là căn cứ pháp lý để nhà nước quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất đai của quốc gia, để người sử dụng đất yên tâm sử dụng và khai thác tiềm năng từ đất mang lại. Đất đai được sử dụng tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả đúng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của nhà nước.
Đó cũng là quá trình xác lập mối quan hệ đất đai giữa nhà nước và chủ sử dụng đất, là cơ sở pháp lý về đất đai để người sử dụng đất thực hiện quyền và nghĩa vụ và được nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì vậy, công tác n 2 cấp GCNQSD đất luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu. Hiện nay, theo chương trình xây dựng CSDL địa chính của Chính phủ, cấp GCNQSDĐ phải gắn liền với đo đạc BĐĐC để có cơ sở đồng nhất về dữ liệu, hồ sơ và khép kín. Bắc Kạn là 1 tỉnh nghèo, mới tái lập năm 1997 nên điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất - hạ tầng còn nhiều khó khăn nên chưa thể đầu tư vào xây dựng CSDL địa chính nên CSDL còn sơ sài, chưa thống nhất.
Trong những năm gần đây, nhận thấy tầm quan trọng của công tác quản lý đất đai, tỉnh cũng như nhà nước đã có sự đầu tư vào xây dựng CSDL địa chính để phục vụ tốt hơn công tác quản lý đất đai cũng như xây dựng CSDL địa chính Quốc gia thống nhất trên toàn quốc. Nhưng do cơ sở vật chất còn yếu kém, trình độ khoa học kỹ thuật chưa cao, trình độ chuyên môn của cán bộ còn yếu kém, chưa đồng đều nên việc xây dựng hệ thống CSDL địa chính còn chưa thiếu đồng bộ, quản lý yếu kém…Để nhằm nâng cao công tác xây dựng hệ thống CSDL địa chính cũng như công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh, em đã chọn đề tài: “Ứng dụng phần mềm TMV.CADAS đo đạc bản đồ địa chính vào quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Dương Phong – huyện Bạch Thông – tỉnh Bắc Kạn” 2. Mục đích nghiên cứu Ứng dụng phần mềm TMV.CADAS vào thành lập đo đạc bản đồ địa chính (BĐĐC) và áp dụng vào quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ): + Nghiên cứu ứng dụng phần mền vào quy trình cấp GCNQSDĐ. + Áp dụng trên địa bàn xã Dương Phong, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn + Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đo đạc BĐĐC và cấp GCNQSDĐ.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học và pháp lý xây dựng CSDL địa chính, đo đạc thành lập BĐĐC hoàn thiện quy trình cấp GCNQSDĐ - Ý nghĩa thực tiễn: + Đề tài đã đưa ra được những giải pháp có tính khả thi cao về đo đạc thành lập BĐĐC và hoàn thiện quy trình cấp GCNQSDĐ ứng dụng phần mềm TMV.CADAS + Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, các nhà lãnh đạo có những biện pháp cụ thể để áp dụng xây dựng CSDL địa chính trên địa bàn tỉnh đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11. CSDL địa chính 1. Cơ sở khoa học xây dựng CSDL địa chính CSDL địa chính là hồ sơ địa chính được quản lý dưới dạng số sử dụng các phần mềm chuyên môn như GIS, MICRO STATION, TMV.CSDL địa chính chứa đựng thông tin đất đai và đồng thời thể hiện mối quan hệ của con người với thửa đất.
Trên thế giới, các nhà khoa học luôn luôn cố gắng tìm cách khái quát hoá các mô hình quản lý đất đai, từ đó đưa ra một chuẩn mẫu về quản lý đất đai. Năm 1994, Hiệp hội Trắc địa thế giới (FIG) đã hoàn thành tài liệu Cadastral 2014 thể hiện được những nguyên tắc cơ bản của một hệ thống địa chính hiện đại với tầm nhìn 20 năm và nó đã trở thành một sợi chỉ xuyên suốt trong các nghiên cứu có liên quan đến hồ sơ địa chính và đăng ký đất đai. Dựa trên tài liệu này, năm 2002, một nhóm học giả người Hà Lan (Lemmen, Van Oosterom và nnk) đã đưa ra một mô hình cơ sở dữ liệu địa chính có tên là CCDM (Core Cadastral Domain Model) (hình 2. Mô hình hạt nhân trong lĩnh vực địa chính, CCDM Mô hình này thể hiện mối quan hệ của con người (lớp Person) đối với thửa đất (lớp Register Object) thông qua các quyền, trách nhiệm và giới hạn sử dụng đất (lớp RRR – Right, Responsibility, Restriction).
Đối tượng đăng ký có thể là thửa đất hay bất động sản gắn liền với đất; con người là những n 5 người sử dụng, người sở hữu bất động sản; quyền là quyền sử dụng đất và các quyền có liên quan. CCDM đã trở thành mô hình dữ liệu chuẩn để phát triển, chỉnh sửa cho phù hợp với hệ thống quản lý đất đai ở nhiều nước trên thế giới. Từ mô hình này, năm 2008, hiệp hội FIG và các nhà khoa học tiếp tục phát triển thành mô hình địa chính LADM (Land Administration Domain Model) và được nhiều nước trên thế giới áp dụng như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Nhật,… LADM là một mô hình chuẩn hóa trong lĩnh vực đăng kí đất đai và hồ sơ địa chính. Về bản chất, mô hình LADM cũng vẫn thể hiện mối quan hệ giống như CCDM.
Tuy nhiên, các khái niệm về lớp đối tượng có sự mở rộng hơn. Đó là mối quan hệ giữa con người (lớp LA_Party) với đơn vị hành chính cơ bản (lớp LA_BAUnit) thông qua quyền, trách nhiệm và giới hạn sử dụng (lớp LA_RRR). Mô hình địa chính LADM Trên thực tế, mô hình LADM có rất nhiều lớp và phức tạp hơn rất nhiều. Tuy nhiên hạt nhân của mô hình dựa trên 4 lớp cơ bản: - Lớp LA_Party: là những cá nhân, tổ chức hoặc nhóm người đóng vai trò trong việc thực hiện, giải quyết các quyền.
- Lớp LA_RRR: là các quyền, hạn chế hoặc trách nhiệm. Ví dụ như không cho phép xây dựng trong phạm vi 200 m từ trạm nhiên liệu. n 6 - Lớp LA_SpatialUnit: là các đơn vị không gian trên hoặc dưới bề mặt đất. Các đơn vị không gian này có thể được thể hiện bằng dạng chữ, điểm, đường, vùng trong không gian 2D, 3D hoặc kết hợp cả hai.
- Lớp LA_BAUnit: là đơn vị hành chính cơ bản. Đơn vị hành chính cơ bản bao gồm các đơn vị không gian với các quyền, trách nhiệm, hạn chế duy nhất và đồng nhất được liên kết trong toàn bộ hệ thống. Đây là những lớp cơ bản của mô hình LADM, ngoài ra nó có thể được phát triển hoặc thêm các lớp khác. Bởi vì, mặc dù, LADM là một mô hình hạt nhân trong lĩnh vực địa chính nhưng LADM không được mong đợi để xây dựng hoàn toàn như trên cho bất cứ quốc gia nào mà mô hình sẽ được mở rộng và bổ sung thêm các thuộc tính, sự liên kết mới hoặc có thể là một lớp mới hoàn toàn nhưng nó phù hợp đặc điểm sử dụng đất và cần thiết cho một vùng và quốc gia đó.
Mô hình Social Tenure Domain Model (STDM) được phát triển dựa trên mô hình LADM là một sáng kiến của UN-Habitat (năm 2009) nhằm hỗ trợ các nước mà trình độ quản lý đất đai còn yếu kém. Mối quan hệ giữa con người (Lớp Party) với các đơn vị không gian (Lớp Spatial Unit) trong mô hình STDM được hiểu là mối quan hệ xã hội – Social Tenure Relationship (Lớp Social Tenure). Mô hình này phù hợp với các nước có nhiều khu nhà ổ chuột, mức độ thông tin về địa chính ít, nhiều diện tích đất dựa vào phong tục, tập quán hơn là luật ở những khu vực nông thôn,… (Hình 2. Mô hình địa chính STDM của UN-Habitat, năm 2009 n 7 Vì vậy, LADM là một mô hình rất linh hoạt.
Do đó, phải căn cứ vào điều kiện và đặc điểm của mỗi nước để xây dựng mô hình CSDL địa chính phù hợp và có hiệu quả nhất cho quốc gia đó. Một ý tưởng nữa của LADM là sử dụng CSDL thời gian trong thuộc tính của các đối tượng để quản lý thông tin về quá khứ của các đối tượng. Đối với mô hình CSDL địa chính, CSDL thời gian cho phép lưu trữ các trạng thái quá khứ của thửa đất và các đăng ký quyền sử dụng đất. Trong LADM, các đối tượng mà có thuộc tính tmin (được hiểu là thời gian bắt đầu) và tmax (được hiểu là thời gian kết thúc) thì đều nằm trong lớp Versioned Objects nhằm mô tả dữ liệu quá khứ hay lịch sử của đối tượng.
Thời gian bắt đầu được hiểu là thời điểm xuất hiện đối tượng đó theo pháp lý, còn thời gian kết thúc là thời điểm đối tượng đó không tồn tại theo pháp lý. Như vậy, mỗi trạng thái của đối tượng được ghi nhận bởi 2 thông tin của thời gian.