Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa và gia tăng dân số tại Việt Nam tạo ra áp lực rất lớn đối với công tác quản lý chất thải rắn. Trung bình mỗi năm có khoảng 20 bãi chôn lấp chất thải mới được hình thành; trên cả nước có khoảng 904 bãi chôn lấp nhưng phần lớn luôn trong tình trạng quá tải và tiềm ẩn rủi ro ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Trong đó, nước rỉ rác là nguồn phát thải độc hại chứa hàm lượng cao các hợp chất hữu cơ (COD, BOD), hợp chất nitơ (amoni, nitrat), kim loại nặng (Fe, As, Pb, Cd, Hg) và vi sinh vật gây bệnh, đe dọa trực tiếp tới tầng nước ngầm, nước mặt và đất canh tác nông nghiệp.

Khu xử lý chất thải Xuân Sơn (đặt tại xã Xuân Sơn, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội) có tổng diện tích 83,5 ha, hoạt động từ năm 1998 để tiếp nhận và xử lý rác thải sinh hoạt của thị xã Sơn Tây cùng 12 huyện ngoại thành Hà Nội (gồm Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phúc Thọ, Phú Xuyên, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa). Khối lượng rác tiếp nhận trung bình khoảng 1.500 tấn/ngày (trong đó chôn lấp 1.400 tấn và đốt 100 tấn). Dù đã có các trạm xử lý nước rác đi vào hoạt động (do Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội vận hành với công suất 300 $\text{m}^3/\text{ngày}$ và Công ty CP Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây vận hành với công suất 500–700 $\text{m}^3/\text{ngày}$), chất lượng nước thải sau xử lý qua các năm vẫn chưa đạt yêu cầu, gây ô nhiễm nguồn nước và nông nghiệp tại địa phương. Thực trạng này dẫn đến nhiều bức xúc trong cộng đồng dân cư xung quanh bãi rác (tiêu biểu tại thôn Lễ Khê). Trước yêu cầu cấp thiết về việc tìm kiếm giải pháp xử lý sinh thái chi phí thấp và thân thiện với môi trường, khóa luận đã thực hiện nghiên cứu sử dụng cỏ Vetiver để làm sạch nước rỉ rác.

Mục tiêu chung của nghiên cứu là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nước rỉ rác bằng cỏ Vetiver. Các mục tiêu cụ thể và nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:

  1. Đánh giá đặc điểm chất lượng nước rỉ rác tại bãi rác Xuân Sơn, thị xã Sơn Tây, Hà Nội.
  2. Theo dõi, đánh giá đặc điểm sinh trưởng và xác định khả năng xử lý các chất ô nhiễm trong nước rỉ rác của cỏ Vetiver.
  3. Đề xuất một số giải pháp công nghệ và quản lý nhằm ứng dụng cỏ Vetiver để xử lý nước rỉ rác tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cỏ Vetiver (tên tiếng Việt: Cỏ hương bài hoặc Cỏ hương lau; tên khoa học: Chrysopogon zizanioides, thuộc họ Hòa thảo Poaceae). Mẫu giống thuần chủng được thu thập từ Divi farm, xã Yên Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  • Phạm vi không gian: Nhà máy xử lý rác thải Xuân Sơn (thị xã Sơn Tây, Hà Nội) và Trung tâm Thí nghiệm thực hành T6, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 9/2020 đến tháng 5/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý thuyết về công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường bằng thực vật (Phytoremediation), cụ thể là nhóm thực vật thủy sinh/bán thủy sinh. Cơ chế xử lý ô nhiễm của thực vật gồm:

  • Cơ chế tác động trực tiếp: Thực vật hấp thu các chất dinh dưỡng (N, P) và một số ion kim loại nặng từ môi trường nước để phục vụ quá trình sinh trưởng, tích lũy sinh khối; bộ rễ dạng chùm dày đặc giúp giữ lại các chất rắn lơ lửng (SS), làm giảm độ đục của nước.
  • Cơ chế tác động gián tiếp: Bộ rễ phát triển xốp tạo thành giá thể diện tích bề mặt lớn cho vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí bám dính. Thực vật vận chuyển oxy hòa tan ($\text{DO}$) từ khí khổng của phần thân trên qua mô khí xuống vùng rễ, kích thích vi sinh vật hiếu khí oxy hóa các hợp chất hữu cơ (làm giảm COD, BOD) và thúc đẩy quá trình nitrat hóa, phản nitrat hóa.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập số liệu bao gồm:

  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi gồm 30 phiếu điều tra tại các hộ dân sống quanh khu vực bãi rác Xuân Sơn để đánh giá mức độ ô nhiễm, tác động đến sức khỏe, cây trồng và nguồn nước.
  • Phương pháp lấy mẫu thực địa: Mẫu nước rỉ rác thô (thể tích 40 lít) được lấy tại hố thu thứ nhất của bãi rác Xuân Sơn lúc 15h00 ngày 28/10/2020 bằng can nhựa 20 lít tráng rửa sạch, nắp kín không để lọt bọt khí. Cây cỏ Vetiver được thu thập lúc 14h00 ngày 05/10/2020 tại Phú Thọ, rửa sạch rễ và nuôi ổn định 15 ngày trong nước sạch để thích nghi trước khi đưa vào thí nghiệm.
  • Phương pháp bố trí thí nghiệm: Sử dụng 4 thùng xốp kích thước $49 \times 34 \times 28,5\text{ cm}$. Mẫu nước rỉ rác được pha loãng 5 lần (tỷ lệ 3 lít nước rác nguyên chất pha với 12 lít nước sạch tạo thành 15 lít dung dịch/thùng). Bố trí 1 thùng đối chứng (không trồng cây) và 3 thùng trồng cỏ Vetiver tương ứng với các mức độ che phủ bề mặt 30%, 70% và 100%. Quá trình theo dõi được thực hiện qua 4 mốc thời gian: Lần 1 (ngay sau lấy mẫu - ngày 29/10/2020), Lần 2 (sau 15 ngày - 13/11/2020), Lần 3 (sau 30 ngày - 28/11/2020), Lần 4 (sau 45 ngày - 13/12/2020).
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
    • $\text{pH}$: Đo trực tiếp bằng máy đo $\text{pH}$ meter.
    • Tổng chất rắn hòa tan ($\text{TDS}$): Xác định bằng thiết bị đo nhanh chuyên dụng trong phòng thí nghiệm (đơn vị ppm).
    • Amoni ($\text{NH}_4^+$): Lọc mẫu, tạo phức màu vàng bằng thuốc thử Nessler và dung dịch Senesner, đo mật độ quang trên máy so màu quang điện UV-VIS.
    • Nitrat ($\text{NO}_3^-$): Đun cách thủy làm cạn mẫu, phản ứng với acid disunfophenic và $\text{NH}_3$ đặc, so màu quang điện.
    • Nitrit ($\text{NO}_2^-$): Phản ứng tạo màu với acid sulfanilic và $\alpha$-naphthylamine, đo quang phổ UV-VIS.
    • Nhu cầu oxy hóa học ($\text{COD}$): Phân tích theo tiêu chuẩn TCVN 6491:1999 (ISO 6060:1989) bằng phương pháp oxy hóa với Kali dicromat ($\text{K}_2\text{Cr}_2\text{O}_7$) và $\text{Ag}_2\text{SO}_4/\text{H}_2\text{SO}_4$, nung ở $150^\circ\text{C}$ trong 2 giờ, chuẩn độ lượng dư bằng muối Mohr $(\text{NH}_4)_2\text{Fe}(\text{SO}_4)_2$ với chất chỉ thị Ferroin.
    • Sắt tổng số ($\text{Fe}^{3+}$): Chuẩn bị dãy dung dịch chuẩn ($0 - 6\text{ mg/l}$), tạo phức với acid sunfosalicylic trong môi trường $\text{NH}_4\text{Cl}$ và $\text{NH}_3$, so màu quang điện ở bước sóng 424 nm.
    • Tổng Photpho: Vô cơ hóa mẫu bằng Kali peroxodisulfat ($\text{K}_2\text{S}_2\text{O}_8$) hoặc hỗn hợp $\text{HNO}_3 - \text{H}_2\text{SO}_4$, tạo phức màu xanh với acid ascorbic và thuốc thử molybdate, đo phổ hấp thụ trên máy UV-VIS.
  • Tiêu chuẩn so sánh: Đối chiếu kết quả với QCVN 25:2009/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải của bãi chôn lấp chất thải rắn, Cột B2) và QCVN 40:2011/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp, Cột B).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về xử lý nước thải bằng thực vật thủy sinh, nêu rõ các nhóm thực vật thường dùng (lau sậy, cỏ lác, bèo cái, cải xoong, rau muống, cỏ Vetiver) cùng vai trò lọc cơ học, chuyển hóa sinh hóa và cung cấp oxy vùng rễ. Chương này phân tích các ưu điểm (chi phí thấp, dễ vận hành, tận dụng sinh khối làm phân bón/thủ công mỹ nghệ, không tốn năng lượng) và nhược điểm (cần diện tích mặt bằng lớn, hiệu quả xử lý chậm) của phương pháp.

Chương 1 cũng tổng quan về nguồn gốc hình thành, thành phần hóa lý phức tạp của nước rỉ rác trên thế giới (số liệu so sánh tại Colombia, Canada, Đức) và tại Việt Nam (bãi rác Nam Sơn, Gò Cát, Thủy Phương, Tràng Cát). Đối với bãi rác Xuân Sơn, tài liệu dẫn lại số liệu đánh giá năm 2012 của Vũ Đức Toàn cho thấy nước thải sau trạm xử lý vẫn có nồng độ COD lên tới 3.540–3.730 mg/l, $\text{BOD}_5$ đạt 2.150–2.350 mg/l, vượt xa quy chuẩn môi trường cho phép.

Chương 2: Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của khu vực

Chương này mô tả chi tiết điều kiện khu vực thị xã Sơn Tây:

  • Vị trí địa lý: Cửa ngõ phía Tây Hà Nội, cách trung tâm 42 km; tọa độ $21^\circ08'12'' - 21^\circ13'89''$ vĩ độ Bắc và $105^\circ30'116'' - 105^\circ50'44''$ kinh độ Đông; tiếp giáp huyện Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc), Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất.
  • Địa hình: Trung du, gồm 2 dạng chính: vùng bán sơn địa (chiếm 63% diện tích tự nhiên, gồm các xã Xuân Sơn, Kim Sơn, Thanh Mỹ, Cổ Đông, phường Xuân Khanh) và vùng đồng bằng (chiếm 37%). Tổng diện tích tự nhiên là 113,5 $\text{km}^2$.
  • Kinh tế - xã hội: Dân số năm 2019 đạt 233.620 người (mật độ 2.067 người/$\text{km}^2$). Tốc độ tăng trưởng sản xuất đạt 10,1%; cơ cấu kinh tế gồm dịch vụ 45,3%, công nghiệp - xây dựng 43,9%, nông - lâm - thủy sản 10,8%; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 45 triệu đồng/năm.
  • Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm $23,3^\circ\text{C}$, lượng bốc hơi 816 mm/năm, độ ẩm trung bình 84%, tốc độ gió trung bình 18 m/s.

Chương 3: Mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung, phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày các thông số thực nghiệm, đối tượng thực vật Chrysopogon zizanioides với cấu trúc thân bụi cao 1,5–3 m, rễ cắm sâu 3–5 m và xòe rộng 2,5 m. Chương này quy định chi tiết quy trình lấy mẫu nước tại hố thu thứ nhất, quy trình dưỡng cây 15 ngày, cách thức pha loãng dung dịch 5 lần, các bước vận hành 4 thùng xốp thí nghiệm và các quy trình hóa nghiệm xác định 8 thông số ô nhiễm nước theo đúng các phương pháp chuẩn độ và quang phổ kế UV-VIS.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 phân tích dữ liệu khảo sát 30 hộ dân tại xã Xuân Sơn: 20/30 hộ (chiếm 66,67%) đánh giá nước rỉ rác có nồng độ ô nhiễm rất cao, bốc mùi hôi thối, phát sinh ruồi muỗi, gây bệnh về mắt/đường hô hấp cho người già và trẻ nhỏ, làm mất mùa lúa và làm chết/dị tật thủy sản nuôi trồng.

Chương này trình bày chi tiết kết quả phân tích nồng độ nước rác thô đầu vào và biến thiên các chỉ tiêu hóa lý trong các thùng thí nghiệm trồng cỏ Vetiver ở các mốc 15, 30 và 45 ngày. Dữ liệu khẳng định cỏ Vetiver thích nghi tốt với môi trường nước rỉ rác pha loãng, hệ rễ và thân phát triển mạnh, làm giảm đáng kể nồng độ COD, amoni, nitrat, nitrit, photpho và sắt tổng số.

Chỉ tiêu Mẫu thô ban đầu Thí nghiệm 15 ngày Thí nghiệm 30 ngày Thí nghiệm 45 ngày QCVN 25:2009 (B2) QCVN 40:2011 (B)
$\text{pH}$ 9,3 7,5 7,3 7,0 - 5,5–9,0
$\text{TDS (ppm)}$ 680 267 190 150 - -
$\text{COD (mg/l)}$ 15.360 10.080 7.968 4.800 300 150
$\text{NH}_4^+\text{ (mg/l)}$ 404,44 36,65 26,19 11,15 25 10
$\text{NO}_2^-\text{ (mg/l)}$ 22,52 2,53 2,00 1,76 - -
$\text{NO}_3^-\text{ (mg/l)}$ 28,20 1,862 1,358 1,253 - -
$\text{Fe}^{3+}\text{ (mg/l)}$ 52,59 9,725 8,46 6,12 - 5
Tổng Photpho $\text{(mg/l)}$ 34,52 19,144 16,583 11,926 - 6

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm định lượng về khả năng loại bỏ các chất ô nhiễm trong nước rỉ rác bãi rác Xuân Sơn của cây cỏ Vetiver ở mật độ che phủ 100%:

  • Chỉ số $\text{pH}$: Nước rác thô có tính kiềm cao ($\text{pH} = 9,3$). Dưới tác động chuyển hóa của hệ vi sinh vật và rễ cỏ Vetiver, $\text{pH}$ giảm dần về mức trung tính ổn định: đạt 7,5 sau 15 ngày; 7,3 sau 30 ngày và 7,0 sau 45 ngày (đáp ứng giới hạn cho phép 5,5–9,0 của QCVN 40:2011/BTNMT).
  • Tổng chất rắn hòa tan ($\text{TDS}$): Giảm mạnh từ mức 680 ppm ban đầu xuống còn 267 ppm (sau 15 ngày), 190 ppm (sau 30 ngày) và 150 ppm (sau 45 ngày).
  • Khả năng xử lý $\text{COD}$: Hàm lượng $\text{COD}$ ban đầu là 15.360 mg/l. Sau khi pha loãng và đưa vào hệ thống xử lý cỏ Vetiver, nồng độ $\text{COD}$ giảm xuống 10.080 mg/l (sau 15 ngày), 7.968 mg/l (sau 30 ngày) và đạt 4.800 mg/l (sau 45 ngày).
  • Khả năng xử lý các hợp chất Nitơ: Nồng độ $\text{NH}_4^+$ trong nước rác thô là 404,44 mg/l (vượt tiêu chuẩn cột B2 hơn 16 lần). Trong hệ thí nghiệm cỏ Vetiver, $\text{NH}_4^+$ giảm xuống 36,65 mg/l (sau 15 ngày), 26,19 mg/l (sau 30 ngày) và còn 11,15 mg/l (sau 45 ngày), tiệm cận quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT cột B ($10\text{ mg/l}$) và đạt QCVN 25:2009/BTNMT cột B2 ($25\text{ mg/l}$). Chỉ số $\text{NO}_2^-$ giảm từ 22,52 mg/l xuống 1,76 mg/l; $\text{NO}_3^-$ giảm từ 28,20 mg/l xuống 1,253 mg/l sau 45 ngày.
  • Khả năng xử lý Sắt ($\text{Fe}^{3+}$) và Photpho: Hàm lượng $\text{Fe}^{3+}$ giảm từ 52,59 mg/l xuống 6,12 mg/l (gần đạt chuẩn $5\text{ mg/l}$); Tổng Photpho giảm từ 34,52 mg/l xuống còn 11,926 mg/l sau 45 ngày.

Các giải pháp tác giả đề xuất:

  • Giải pháp công nghệ: Xây dựng mô hình xử lý nước rỉ rác bán thủy sinh dạng bãi lọc ngầm/bề mặt, kết hợp trồng cỏ Vetiver với các tầng vật liệu lọc (sỏi, cát, than hoạt tính) để tăng cường quá trình hấp phụ và phân hủy sinh học trước khi xả ra môi trường.
  • Giải pháp quản lý: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, kiểm tra giám sát định kỳ vận hành các trạm xử lý nước rác, công khai kết quả quan trắc cho người dân địa phương.

Đóng góp của khóa luận: Cung cấp chuỗi dẫn liệu phân tích cụ thể về đặc tính nước rỉ rác tại bãi rác Xuân Sơn và chứng minh tính khả thi của việc ứng dụng sinh khối cỏ Vetiver bản địa để xử lý nguồn nước thải có nồng độ ô nhiễm cao trong điều kiện tự nhiên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thí nghiệm được thực hiện ở quy mô mô hình phòng thí nghiệm (sử dụng 4 thùng xốp thể tích nhỏ 15 lít), chưa vận hành dòng chảy liên tục ngoài thực địa bãi rác.
  • Mẫu nước rỉ rác nghiên cứu phải pha loãng 5 lần trước khi xử lý bằng cỏ Vetiver để tránh làm cây bị sốc nồng độ chất ô nhiễm hữu cơ và amoni quá cao.
  • Nồng độ $\text{COD}$ và tổng photpho sau 45 ngày thí nghiệm tuy đã giảm mạnh nhưng vẫn còn vượt ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 25:2009/BTNMT (Cột B2) và QCVN 40:2011/BTNMT (Cột B).
  • Thời gian theo dõi thực nghiệm giới hạn trong 45 ngày, chưa đánh giá chu kỳ tích lũy kim loại nặng dài hạn trong sinh khối thân và rễ của cỏ Vetiver.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Triển khai mô hình thử nghiệm bán thủy sinh kết hợp vật liệu lọc ở quy mô pilot ngoài hiện trường với dòng thải liên tục.
  • Nghiên cứu kết hợp cỏ Vetiver với các phương pháp tiền xử lý hóa lý hoặc công nghệ sinh học bổ trợ để đưa nồng độ $\text{COD}$ và photpho đạt tiêu chuẩn xả thải hoàn toàn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên và cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Khoa học Môi trường và Công nghệ Sinh học Môi trường.

Các phần có giá trị tham khảo cao bao gồm:

  • Quy trình hóa nghiệm và công thức xác định các thông số chất lượng nước ô nhiễm cao ($\text{COD}$, $\text{NH}_4^+$, $\text{NO}_3^-$, $\text{NO}_2^-$, $\text{Fe}^{3+}$, Tổng P) bằng phương pháp chuẩn độ hóa học và quang phổ hấp thụ phân tử UV-VIS.
  • Bảng số liệu khảo sát hiện trạng bãi rác Xuân Sơn, số liệu điều tra xã hội học 30 hộ dân tại xã Xuân Sơn và chuỗi dữ liệu thực nghiệm về động học hấp thu chất ô nhiễm của cỏ Vetiver qua các khoảng thời gian 15, 30 và 45 ngày.

Câu hỏi thường gặp

1. Chất lượng nước rỉ rác thô đầu vào tại bãi rác Xuân Sơn có những chỉ tiêu nào vượt quy chuẩn môi trường? Kết quả phân tích mẫu nước rỉ rác thô tại hố thu thứ nhất của bãi rác Xuân Sơn cho thấy 5 thông số vượt rất cao so với QCVN 25:2009/BTNMT (cột B2) và QCVN 40:2011/BTNMT (cột B), bao gồm: $\text{pH}$ (9,3), $\text{COD}$ (15.360 mg/l), $\text{NH}_4^+$ (404,44 mg/l), $\text{Fe}^{3+}$ (52,59 mg/l) và Tổng photpho (34,52 mg/l).

2. Mô hình thí nghiệm xử lý bằng cỏ Vetiver được thiết kế và vận hành theo quy cách nào? Nghiên cứu sử dụng 4 thùng xốp kích thước $49 \times 34 \times 28,5\text{ cm}$. Mẫu nước rác thô được pha loãng 5 lần (3 lít nước rỉ rác pha với 12 lít nước sạch tạo thành 15 lít/thùng). Thí nghiệm gồm 1 thùng đối chứng không trồng cây và 3 thùng trồng cỏ Vetiver với các mức độ che phủ 30%, 70% và 100%. Cây cỏ Vetiver được thu thập từ Phú Thọ và nuôi ổn định 15 ngày trong nước sạch trước khi đưa vào bố trí thí nghiệm.

3. Hiệu quả xử lý Amoni ($\text{NH}_4^+$) và $\text{COD}$ của cỏ Vetiver sau 45 ngày đạt được mức độ nào? Ở mật độ che phủ 100% sau 45 ngày thí nghiệm, nồng độ $\text{NH}_4^+$ giảm từ mức 404,44 mg/l ban đầu (sau pha loãng) xuống còn 11,15 mg/l, đạt quy chuẩn QCVN 25:2009/BTNMT cột B2 ($25\text{ mg/l}$) và tiệm cận QCVN 40:2011/BTNMT cột B ($10\text{ mg/l}$). Nồng độ $\text{COD}$ giảm mạnh từ 15.360 mg/l (sau pha loãng còn 10.080 mg/l ở ngày thứ 15) xuống còn 4.800 mg/l ở ngày thứ 45.

4. Kết quả điều tra xã hội học 30 hộ dân quanh bãi rác Xuân Sơn phản ánh những vấn đề gì? Khảo sát 30 phiếu điều tra tại xã Xuân Sơn ghi nhận 66,67% số hộ (20 hộ) đánh giá nước rỉ rác ô nhiễm nặng và bốc mùi hôi thối. Nguồn ô nhiễm gây phát sinh ruồi muỗi, ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe người dân (đặc biệt là bệnh về mắt và hô hấp ở người già, trẻ nhỏ), làm chết hoa màu, mất mùa lúa và làm thủy sản nuôi trồng bị chết hoặc dị tật.

5. Tác giả đã đề xuất mô hình công nghệ cụ thể nào để nâng cao hiệu quả xử lý nước rỉ rác? Tác giả đề xuất xây dựng mô hình bãi lọc bán thủy sinh sử dụng cỏ Vetiver kết hợp các tầng vật liệu lọc nhằm tận dụng bộ rễ xốp dày của cỏ làm giá thể vi sinh và giữ cặn lơ lửng, đồng thời kết hợp quá trình lọc vật lý của sỏi cát để xử lý triệt để các chất ô nhiễm trước khi thải ra nguồn tiếp nhận.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã làm rõ thực trạng ô nhiễm nghiêm trọng của nước rỉ rác tại bãi rác Xuân Sơn (thị xã Sơn Tây, Hà Nội) với các hàm lượng $\text{COD}$, amoni, photpho và sắt vượt quy chuẩn nhiều lần. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh cỏ Vetiver (Chrysopogon zizanioides) có sức sống tốt và hiệu quả xử lý vượt trội đối với các chất ô nhiễm hữu cơ, hợp chất nitơ và kim loại trong nước rỉ rác pha loãng sau 45 ngày theo dõi. Kết quả đạt được là cơ sở khoa học quan trọng để hoàn thiện mô hình công nghệ bán thủy sinh chi phí thấp, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các bãi chôn lấp rác thải rắn đô thị.