CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NƯỚC RỈ RÁC TẠI CÁC BÃI RÁC TẬP TRUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHI PHÍ 1. Tổng quan về quản lý chất thải rắn sinh hoạt 1. Chất thải rắn sinh hoạt a.
Định nghĩa chất thải rắn sinh hoạt Theo Nghị định số 38/2015/NĐ-CP: Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác thải sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người. Đặc điểm của chất thải rắn sinh hoạt Nguồn phát sinh CTR sinh hoạt CTR sinh hoạt phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau: Các khu dân cư; Các trung tâm thương mại; Các khu dịch vụ công cộng đô thị; Các cơ quan, công sở. Các hoạt động KTXH của con người Khu dịch vụ Khu dân Khu thương Cơ quan, công cộng cư mại công sở đô thị CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT Sơ đồ 1. Các nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt (Nguồn: Trần Thị Mỹ Diệu, 2011) Thành phần CTR sinh hoạt Thành phần của CTR sinh hoạt rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương, vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác 8 nhau.
Về cơ bản, thành phần chủ yếu của CTR sinh hoạt bao gồm các chất vô cơ, hữu cơ, kim loại, phi kim và một tỷ lệ nhỏ chất thải nguy hại. Tác hại của CTR sinh hoạt CTR sinh hoạt nếu không được quản lý, xử lý triệt để sẽ gây ra nhiều tác động xấu tới môi trường không khí, nước, đất và sức khỏe cộng đồng. Hiện nay, hoạt động phân loại CTR sinh hoạt tại nguồn mới chỉ được áp dụng rộng rãi ở các thành phố và đô thị lớn. Tại nhiều địa phương, do điều kiện về cơ sở vật chất còn hạn chế, phương tiện thu gom CTR sinh hoạt thô sơ và không đảm bảo vệ sinh môi trường, các điểm tập kết chưa được đầu tư xây dựng dẫn tới nhiều tác động xấu tới môi trường do CTR sinh hoạt.
Tình hình quản lý CTR sinh hoạt Theo Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia giai đoạn 2011-2015, lượng CTR sinh hoạt phát sinh trong giai đoạn 2011-2015 tiếp tục gia tăng và có xu hướng tăng nhanh hơn so với giai đoạn 2006-2010. Theo số liệu thống kê được trong các năm từ 2007-2010, tổng lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc là 17.682 tấn /ngày (năm 2007) và 26.224 tấn/ngày (năm 2010), tăng trung bình 10% mỗi năm. Đến năm 2014, khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh trên cả nước khoảng 63.000 tấn/ngày, tăng trung bình 12% mỗi năm. Xu hướng phát sinh CTR sinh hoạt tại các vùng nông thôn về cơ bản phụ thuộc vào mật độ dân cư và nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Nhìn chung, khu vực đồng bằng có lượng phát sinh CTR sinh hoạt cao hơn khu vực miền núi; khu vực có nhu cầu tiêu dùng càng lớn thì lượng rác càng lớn. Năm 2014, khu vực nông thôn ở cả nước ta phát sinh khoảng 31.000 tấn CTR sinh hoạt mỗi ngày. Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt trung bình ở các đô thị giai đoạn 2013- 2014 đạt khoảng 84-85%, tăng từ 3-4% so với giai đoạn 2008-2010. Khu vực 9 ngoại thành, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt trung bình chỉ đạt 60% tổng khối lượng phát sinh.
Đối với khu vực nông thôn, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-55%. Tại các đô thị, việc thu gom và vận chuyển CTR sinh hoạt do Công ty Môi trường và Đô thị hoặc Công ty công trình đô thị thực hiện. Tại các vùng nông thôn, việc thu gom và vận chuyển CTR sinh hoạt phần lớn là do hợp tác xã, tổ đội thu gom đảm nhiệm. Tuy nhiên, việc thu gom và vận chuyển ở khu vực nông thôn đa phần chỉ dừng lại tại điểm trung chuyển, do đó chưa giải quyết được toàn bộ vấn đề thu gom rác ở khu vực này.
Các biện pháp quản lý/xử lý CTR sinh hoạt Hiện nay, các công nghệ xử lý CTR sinh hoạt đang được áp dụng ở nước ta (kể cả công nghệ nước ngoài) ngày càng đa dạng nhưng hiệu quả thực tế còn chưa được tổng kết, đánh giá một cách đầy đủ. Một số công nghệ trong nước đang triển khai áp dụng bước đầu đã đem lại hiệu quả nhất định. Các công nghệ xử lý CTR sinh hoạt phổ biến ở nước ta hiện nay là chôn lấp, ủ phân hữu cơ (ủ sinh học) và đốt. Công nghệ chôn lấp Trong các công nghệ xử lý chất thải rắn trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, chôn lấp là công nghệ phổ biến và đơn giản nhất.
Công nghệ này đã được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới. Về thực chất, chôn lấp là lưu giữ rác thải trong một khu vực và có phủ đất lên trên. Công nghệ chôn lấp thường được áp dụng cho đối tượng là CTR sinh hoạt không để tái chế, tro xỉ của các lò đốt, chất thải công nghiệp. Công nghệ này cũng thường áp dụng để chôn lấp CTNH, chất thải phóng xạ ở các bãi chôn lấp có thiết kế đặc biệt cho rác thải nguy hại.
- Ưu điểm: Phù hợp với nơi có diện tích đất rộng; Áp dụng được cho tất cả các loại chất thải rắn; Có thể thu hồi năng lượng từ khí gas hình thành 10 trong quá trình phân hủy CTR; Linh hoạt trong quá trình sử dụng khi cần có sự thay đổi về công suát; Đơn giản, dễ thực hiện và chi phí đầu tư cũng như chi phí vận hành thấp. - Nhược điểm: Tốn diện tích đất cho chôn lấp; Khả năng lây lan dịch bệnh do các loại động vật gặm nhấm, côn trùng; Sự phát sinh khí gas có thể gây ô nhiễm môi trường không khí hoặc gây cháy nổ; Có thể gây ô nhiễm môi trường nước và đất nếu không được quản lý tốt; Ảnh hưởng đến cảnh quan. Công nghệ đốt Thiêu đốt là phương pháp phổ biến trên thế giới để xử lý chất thải rắn nói chung, đặc biệt là đối với chất thải rắn độc hại công nghiệp, chất thải nguy hại y tế nói riêng. Thiêu đốt CTR là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại chất thải nhất định không thể xử lý bằng các công nghệ khác.
Đây là giai đoạn oxy hóa nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó có rác độc hại được chuyển hóa thành khí và các thành phần không cháy được. Khí thải sinh ra trong quá trình thiêu đốt được làm sạch và thoát ra ngoài môi trường không khí. Tro xỉ được chôn lấp. - Ưu điểm: Có thể xử lý được các CTR không thể xử lý bằng các biện pháp khác như chất thải rắn độc hại công nghiệp, chất thải nguy hại y tế; Phù hợp với những địa phương có diện tích đất hạn chế; Giảm bớt tới mức nhỏ nhất chất thải thành tro, xỉ cho khâu xử lý cuối cùng là chôn lấp; Năng lượng phát sinh từ quá trình đốt có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi, hoặc các ngành công nghiệp cần nhiệt.
- Nhược điểm: Chi phí đầu tư và vận hành cao; Khói thải sinh ra từ quá trình đốt nếu không được xử lý triệt để sẽ là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí; Rác thải cần được phân loại những thành phần không cháy được. Công nghệ ủ sinh học Quá trình ủ sinh học áp dụng đối với các chất hữu cơ không độc hại. 11 Ban đầu, rác thải sẽ được khử nước, sau đó là xử lý cho tới khi thành xốp và ẩm. Độ ẩm và nhiệt độ được kiểm soát để giữ cho vật liệu luôn ở trạng thái hiếu khí trong suốt thời gian ủ.
Quá trình tự tạo ra nhiệt riêng nhờ quá trình oxy hóa sinh hóa các chất hữu cơ. Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy là CO2, nước và các hợp chất hữu cơ bền vững như lignin, xenlulo, sợ,. - Ưu điểm: Loại trừ được 50% lượng rác sinh hoạt bao gồm các chất hữu cơ là thành phần gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước và không khí; Có thể sử dụng lại các chất hữu cơ có trong thành phần rác thải để chế biến làm phân bón phục vụ nông nghiệp theo hướng cân bằng sinh thái; Tiết kiệm được quỹ đất sử dụng làm bãi chôn lấp; Vận hành đơn giản, bảo trì dễ dàng; Chi phí tương đối thấp. - Nhược điểm: Mức độ tự động chưa cao; Cần phải phân loại rác thải, việc phân loại vận thực hiện thủ công nên dễ gây ảnh hưởng đến sức khỏe; Nạp liệu thủ công, năng suất kém.
Đặc điểm của nước rỉ rác và các phương pháp xử lý nước rỉ rác 1. Đặc điểm của nước rỉ rác a. Sự hình thành nước rỉ rác Nước rỉ rác hay nước rò rỉ trong bãi chôn lấp là nước bẩn thấm qua lớp chất thải rắn kéo theo các chất ô nhiễm dạng lơ lửng, keo và tan từ chất thải rắn chảy vào tầng đất dưới của bãi chôn lấp. Đối với quá trình phân hủy sinh học trong các bãi chôn lấp, nước là một tác nhân quan trọng tham gia vào các phản ứng.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp sự có mặt của nước trong bãi chôn lấp lại gây ra những hậu quả tiêu cực. Nước mang theo các chất ô nhiễm ngấm vào các tầng nước ngầm và dòng nước mặt từ đó gây ô nhiễm nguồn nước và đất. Lượng nước rỉ rác sinh ra tại mỗi bãi rác là khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: điều kiện khí tượng, địa hình và địa chất của bãi rác, khí 12 hậu, lượng mưa,… Lưu lượng nước rỉ rác sẽ tăng lên theo thời gian hoạt động của bãi chôn lấp và giảm dần sau khi đóng cửa bãi chôn lấp. Thành phần và tính chất của nước rỉ rác Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thành phần và tính chất của nước rỉ rác như: thành phần của chất thải rắn, các quá trình diễn ra trong bãi chôn lấp (công nghệ chôn lấp), thời gian hoạt động của bãi chôn lấp (tuổi của bãi chôn lấp), điều kiện khí hậu (lượng mưa, độ ẩm,…), điều kiện vận hành bãi chôn lấp (thiết kế, quy trình vận hành),… Các yếu tố trên có thể tác động vào quá trình hình thành nước rỉ rác và quyết định thành phần, tính chất của nước rỉ rác tại các bãi chôn lấp.
Thành phần chất thải rắn Vận chuyển, trung chuyển Tuổi của BÃI CHÔN LẤP Điều kiện khí hậu: bãi chôn lấp Công nghệ chôn lấp lượng mưa, bốc hơi NƯỚC RỈ RÁC Sơ đồ 1.