Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư và đô thị đang là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước mặt tại Việt Nam. Do rào cản về kinh phí đầu tư xây dựng và chi phí vận hành, phần lớn các hệ thống xử lý nước thải hiện hành chỉ xử lý nước thải đạt mức xả thải tối thiểu theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Hàm lượng các hợp chất dinh dưỡng như nitơ (N) và phospho (P) còn tồn đọng trong nước sau xử lý khi xả vào nguồn tiếp nhận sẽ dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa, làm bùng phát các loài tảo gây hại, suy giảm lượng oxy hòa tan và hủy hoại hệ sinh thái thủy sinh.
Các giải pháp hóa học để loại bỏ triệt để nitơ và phospho thường đòi hỏi chi phí hóa chất cao, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ phát sinh dư lượng hóa chất thứ cấp gây độc hại cho môi trường. Việc xây dựng bổ sung các công trình sinh học truyền thống lại gặp hạn chế về quỹ đất và chi phí vận hành. Trong bối cảnh đó, giải pháp sử dụng vi tảo quang tự dưỡng – cụ thể là loài vi tảo lục Chlorella sp. – mang lại tiềm năng xử lý kép: vừa hấp thu hiệu quả các hợp chất nitơ và phospho để làm nguồn dinh dưỡng xây dựng tế bào, vừa cố định khí $CO_2$ thông qua quá trình quang hợp nhằm giảm hiệu ứng nhà kính. Đồng thời, sinh khối vi tảo thu hồi sau quá trình xử lý có thể sử dụng làm nguồn nguyên liệu cho sản xuất nhiên liệu sinh học (biodiesel), phân bón hữu cơ hoặc thức ăn trong nuôi trồng thủy sản.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Phương Dung tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá khả năng xử lý nitơ và phospho trong nước thải sinh hoạt của loài vi tảo Chlorella sp. trong điều kiện phòng thí nghiệm.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định đặc tính ô nhiễm ban đầu của nguồn nước thải sinh hoạt thu gom thực tế.
- Khảo sát sự biến động của các chỉ tiêu chất lượng nước ($pH$, $TN$, $N\text{-}NH_4^+$, $TP$, $P\text{-}PO_4^{3-}$, $COD$, $BOD_5$) trong quy trình xử lý 7 ngày bằng vi tảo Chlorella sp. dưới hai điều kiện xử lý sơ bộ khác nhau (keo tụ – lắng bằng phèn và lắng tự nhiên).
- Theo dõi mật độ sinh trưởng và tốc độ tăng trưởng của vi tảo Chlorella sp. trong môi trường nước thải.
- So sánh và đánh giá hiệu quả loại bỏ các chất ô nhiễm giữa hai nghiệm thức nhằm xác định giải pháp tiền xử lý tối ưu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Khả năng hấp thu, xử lý nitơ và phospho của vi tảo Chlorella sp. cùng đặc tính lý hóa của nước thải sinh hoạt trước và sau quá trình xử lý.
- Phạm vi không gian: Thực nghiệm được tiến hành tại Phòng thí nghiệm 420, Khoa Kỹ thuật – Công nghệ – Môi trường, Trường Đại học An Giang. Mẫu nước thải sinh hoạt được thu gom trực tiếp tại cửa xả cống thoát nước Kênh Đào, phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 04 năm 2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và mô hình sinh học
Nghiên cứu dựa trên các cơ sở khoa học về sinh học vi tảo và kỹ thuật xử lý nước thải sinh học:
- Đặc tính sinh học của Chlorella sp.: Là vi tảo lục đơn bào thuộc ngành Chlorophyceae, lớp Trebouxiophyceae, bộ Chlorellales, họ Chlorella. Tế bào có kích thước hiển vi 3–5 $\mu m$, vách cellulose, chứa chlorophyll a và b, sinh sản vô tính bằng bất động bào tử. Chlorella sp. thích ứng tốt trong khoảng $pH = 6,0 - 8,5$, nhiệt độ $25^\circ\text{C} - 35^\circ\text{C}$, độ mặn $0 - 35\text{ ppt}$. Thành phần tế bào khô chứa 40%–60% protein, 10%–20% lipid và 20% carbohydrate.
- Cơ chế hấp thu dinh dưỡng: Vi tảo sử dụng nitơ và phospho để tổng hợp protein, nucleic acid, phospholipid và sắc tố quang hợp. Vi tảo ưu tiên hấp thu nitơ dạng amoni ($N\text{-}NH_4^+$) hơn dạng nitrat ($N\text{-}NO_3^-$) do không tiêu tốn năng lượng cho quá trình khử enzyme. Đối với phospho, tảo hấp thu trực tiếp phosphate vô cơ hòa tan (DIP dạng $PO_4^{3-}$); trong điều kiện thiếu hụt, enzyme ngoại bào alkaline phosphatase được tiết ra để thủy phân phospho hữu cơ hòa tan (DOP) thành dạng vô cơ, đồng thời tích trữ phospho dư thừa dưới dạng hạt polyphosphate trong tế bào.
- Động học sinh trưởng của vi tảo: Quần thể vi tảo phát triển qua 5 pha điển hình (pha thích ứng, pha tăng sinh theo hàm số mũ $C_t = C_0 \cdot e^{\mu t}$, pha bão hòa và pha suy tàn).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu được thiết kế theo mô hình mẻ gián đoạn (batch culture) trong phòng thí nghiệm, bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức trong chu kỳ 7 ngày:
- Mô hình thí nghiệm: Sử dụng các bình keo thủy tinh hình trụ trong suốt thể tích 15 lít (chiều cao $h = 36\text{ cm}$, đường kính $D = 23\text{ cm}$), nắp đậy kín để hạn chế nhiễm tạp. Thể tích nước thải nạp vào là 8 lít (chiều cao cột nước khoảng 24 cm, đảm bảo khả năng xuyên thấu quang học). Bổ sung 70 ml dung dịch giống vi tảo Chlorella sp. (cung cấp từ Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ, nuôi giữ trong môi trường dinh dưỡng Walne) để đạt mật độ ban đầu khoảng $100.000\text{ tế bào/ml}$.
- Điều kiện vận hành: Hệ thống được chiếu sáng liên tục 24/24 bằng đèn huỳnh quang công suất 36 W (chiều dài 1,2 m) với cường độ ánh sáng đạt $1.000\text{ lux}$; sục khí liên tục bằng máy sục khí để xáo trộn đều, cung cấp nguồn $CO_2$ cho quang hợp và duy trì điều kiện hiếu khí.
- Bố trí 2 nghiệm thức (NT):
- Nghiệm thức 1 (NT1): Nước thải sinh hoạt được xử lý sơ bộ bằng phương pháp keo tụ – lắng với dung dịch phèn bão hòa, điều chỉnh $pH$ về khoảng 6,0–7,0 cho cặn lắng hoàn toàn, gạn lấy phần nước trong có hàm lượng chất rắn lơ lửng ($TSS$) đạt loại A theo QCVN 14:2008/BTNMT ($< 50\text{ mg/l}$).
- Nghiệm thức 2 (NT2): Nước thải sinh hoạt chỉ qua bước xử lý sơ bộ bằng phương pháp lắng trọng lực tự nhiên để loại bỏ cặn thô trước khi đưa vào nuôi tảo.
| Nghiệm thức |
Phương pháp xử lý sơ bộ |
Nồng độ nước thải (%) |
Mật độ tảo ban đầu (ct/ml) |
Số lần lặp lại |
Thời gian (ngày) |
| NT1 |
Keo tụ bằng phèn + lắng |
100% |
$\approx 100.000$ |
3 |
7 |
| NT2 |
Lắng tự nhiên |
100% |
$\approx 100.000$ |
3 |
7 |
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Mẫu nước được thu thập định kỳ vào lúc 8h00 sáng mỗi ngày (500 ml/nghiệm thức) để phân tích theo các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và Tiêu chuẩn quốc tế:
- Chỉ tiêu $pH$: Đo trực tiếp bằng máy đo $pH$ điện tử.
- Tổng Nitơ ($TN$): Phân tích theo TCVN 5987–1995 (vô cơ hóa bằng phương pháp Kjeldahl với xúc tác và axit $H_2SO_4$ đậm đặc, chưng cất giải phóng $NH_3$ thu vào dung dịch axit boric, chuẩn độ bằng dung dịch $HCl$ 0,1 N chuẩn).
- Amonia ($N\text{-}NH_4^+$): Phân tích theo TCVN 5988:1995 (kiềm hóa mẫu bằng $MgO$ 5%, chưng cất bán tự động và chuẩn độ bằng $HCl$ 0,1 N).
- Tổng Phospho ($TP$): Vô cơ hóa mẫu bằng hỗn hợp $H_2SO_4$ và $HNO_3$ đậm đặc trên bếp phá mẫu Kjeldahl, lọc qua màng 0,45 $\mu m$, định mức và phân tích so màu quang phổ.
- Phosphate vô cơ ($P\text{-}PO_4^{3-}$): Phân tích trắc quang theo phương pháp SMEWW 4500-P-2005 tại bước sóng 880 nm với dãy dung dịch chuẩn từ 0,05 mg/l đến 1,0 mg/l.
- Nhu cầu oxy hóa học ($COD$): Xác định theo phương pháp chuẩn độ pemanganat (TCVN 4565–88).
- Nhu cầu oxy sinh học ($BOD_5$): Xác định theo TCVN 4566–88.
- Mật độ tế bào vi tảo: Đếm định kỳ vào các ngày 0, 1, 3, 5, 7 bằng buồng đếm Sedgewick-Rafter (thể tích 1 ml, diện tích $1.000\text{ mm}^2$, chia 1.000 ô nhỏ diện tích $1\text{ mm}^2$) dưới kính hiển vi quang học, áp dụng công thức của Boyd và Tucker (1992):
$$N = \frac{T \times 1.000}{A \times n}$$
Trong đó: $T$ là tổng số cá thể đếm được; $A$ là diện tích một ô đếm ($1\text{ mm}^2$); $n$ là số ô đếm; $1.000\text{ mm}^2$ là diện tích buồng đếm.
- Tốc độ tăng trưởng đặc trưng ($\mu$): Tính toán theo công thức của Dương Thị Hoàng Oanh và ctv (2006):
$$\mu = \frac{\ln(N_t) - \ln(N_0)}{t}$$
- Xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được tính toán giá trị trung bình bằng phần mềm Microsoft Excel và kiểm định phương sai một yếu tố (ANOVA) bằng phần mềm IBM SPSS Statistics.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương này phân tích thực trạng quá tải ô nhiễm chất dinh dưỡng (nitơ và phospho) trong nước thải sinh hoạt đô thị và nguy cơ suy thoái môi trường do phú dưỡng hóa. Tác giả chỉ ra hạn chế của các phương pháp hóa lý và sinh học truyền thống, từ đó đặt vấn đề khai thác tiềm năng của vi tảo Chlorella sp. như một công nghệ sinh thái thân thiện, chi phí thấp, cho phép đồng thời xử lý chất ô nhiễm và tạo nguồn sinh khối thứ cấp giàu giá trị kinh tế.
Chương 2: Lược khảo tài liệu
Chương 2 tổng hợp toàn diện các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm liên quan đến nước thải sinh hoạt và vi tảo:
- Phân tích nguồn gốc, thành phần nước thải sinh hoạt: hàm lượng chất hữu cơ ($150 - 450\text{ mg/l}$ trọng lượng khô, gồm 40%–50% protein, 40%–50% carbohydrate, 5%–10% lipid), tải trọng ô nhiễm theo TCXD-51-84, tính chất nước thải theo Lâm Minh Triết (2008) và Lê Văn Cát (2007).
- Tổng quan hệ số tác động của ô nhiễm nước và phú dưỡng hóa dựa trên số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) và các nghiên cứu hiện trường tại Hồ Tây, hồ Xuân Hương, hồ Dianchi.
- Phân loại học, hình thái, cấu tạo tế bào, thành phần sinh hóa (bảng thành phần acid amin, vitamin, khoáng chất theo Trần Đình Toại và Châu Văn Minh, 2005) cùng các yếu tố môi trường chi phối vi tảo Chlorella sp.
- Tổng kết các công trình nghiên cứu tiền nghiệm về xử lý nước thải bằng vi tảo trong và ngoài nước: nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi heo bằng Chlorella sp. và Daphnia của Võ Thị Kiều Thanh và cs (2012); xử lý nước thải ao cá tra của Trần Chấn Bắc và cs (2013); mô hình ống dẫn chiết xuất dầu sinh học bằng dimethyl ether của Nguyễn Trung Hiệp và cs (2015); cùng các công trình quốc tế của Karin Larsdotter (2006), Kwangyong Lee (2001), Mostafa S. (2012), Deviram (2011) và báo cáo tổng hợp Cleantech (2013).
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết vị trí lấy mẫu, thiết kế cấu tạo mô hình keo thủy tinh 15 lít, quy trình vận hành và thông số kỹ thuật nuôi cấy vi tảo. Chương này cung cấp chi tiết từng bước chuẩn bị hóa chất, phá mẫu, chưng cất Kjeldahl, dựng đường chuẩn trắc quang phospho/phosphate, quy trình sử dụng buồng đếm Sedgewick-Rafter và các công thức toán học xác định nồng độ ô nhiễm, mật độ tế bào và tốc độ tăng trưởng của vi tảo.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu được qua 7 ngày theo dõi, phân tích động học biến đổi của từng thông số ($pH$, amonia, tổng nitơ, phosphate, tổng phospho, $COD$, $BOD_5$) và sự biến động mật độ vi tảo giữa hai nghiệm thức NT1 và NT2. Tác giả sử dụng các biểu đồ tiến trình và bảng phân tích phương sai ANOVA để làm rõ cơ chế tác động của bước xử lý sơ bộ keo tụ bằng phèn đối với khả năng quang hợp và hấp thu dinh dưỡng của vi tảo Chlorella sp.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng chính
Chất lượng nước thải sinh hoạt ban đầu thu tại cống Kênh Đào thể hiện mức độ ô nhiễm cao, vượt nhiều lần quy chuẩn xả thải QCVN 14:2008/BTNMT: $pH = 7,85$; $TN = 61,05\text{ mg/l}$; $N\text{-}NH_4^+ = 26,54\text{ mg/l}$; $TP = 67,82\text{ mg/l}$; $P\text{-}PO_4^{3-} = 60,41\text{ mg/l}$; $COD = 181,05\text{ mg/l}$; $BOD_5 = 143,21\text{ mg/l}$; $TSS = 134,00\text{ mg/l}$.
Sau quá trình xử lý sơ bộ:
- NT1 (Keo tụ phèn): Hàm lượng $TSS$ giảm mạnh từ $134,00\text{ mg/l}$ xuống $47,00\text{ mg/l}$ (đạt loại A QCVN 14:2008/BTNMT, $< 50\text{ mg/l}$), nước trong rõ rệt; $pH = 6,67$; $TN = 69,30\text{ mg/l}$; $N\text{-}NH_4^+ = 37,27\text{ mg/l}$; $TP = 58,42\text{ mg/l}$; $P\text{-}PO_4^{3-} = 41,28\text{ mg/l}$; $COD = 151,28\text{ mg/l}$; $BOD_5 = 125,32\text{ mg/l}$ (hoặc mẫu thí nghiệm $102,57\text{ mg/l}$).
- NT2 (Lắng tự nhiên): $TSS$ giảm xuống $65,00\text{ mg/l}$ (chỉ đạt loại B); $pH = 7,85$; $TN = 53,20\text{ mg/l}$; $N\text{-}NH_4^+ = 24,66\text{ mg/l}$; $TP = 63,28\text{ mg/l}$; $P\text{-}PO_4^{3-} = 57,43\text{ mg/l}$; $COD = 178,40\text{ mg/l}$; $BOD_5 = 141,44\text{ mg/l}$ (hoặc mẫu thí nghiệm $121,13\text{ mg/l}$).
Hiệu suất xử lý các chỉ tiêu ô nhiễm sau 7 ngày vận hành bằng vi tảo Chlorella sp. được tổng hợp trong bảng đối chiếu sau:
| Chỉ tiêu phân tích |
Nghiệm thức 1 (Keo tụ phèn) |
|
Nghiệm thức 2 (Lắng tự nhiên) |
|
Chênh lệch hiệu quả |
|
Nồng độ (mg/l) |
Hiệu suất (%) |
Nồng độ (mg/l) |
Hiệu suất (%) |
|
| Tổng Nitơ (TN) |
$69,30 \rightarrow 9,57$ |
86,19% |
$53,20 \rightarrow 19,37$ |
63,59% |
NT1 cao hơn 22,60% |
| Amonia ($N\text{-}NH_4^+$) |
$37,27 \rightarrow 16,81$ |
54,90% |
$24,66 \rightarrow 5,05$ |
79,52% |
NT1 khử $20,46\text{ mg/l}$; NT2 khử $19,61\text{ mg/l}$ |
| Tổng Phospho (TP) |
$58,42 \rightarrow 22,88$ |
60,84% |
$63,28 \rightarrow 45,40$ |
28,26% |
NT1 cao hơn 32,58% |
| Phosphate ($P\text{-}PO_4^{3-}$) |
$41,28 \rightarrow 20,91$ |
49,35% |
$57,43 \rightarrow 39,96$ |
30,42% |
NT1 cao hơn 18,93% |
| COD |
$151,28 \rightarrow 62,48$ |
58,70% |
$178,40 \rightarrow 83,60$ |
53,14% |
NT1 cao hơn 5,56% |
| $BOD_5$ |
$102,57 \rightarrow 42,30$ |
58,76% |
$121,13 \rightarrow 57,10$ |
52,86% |
NT1 cao hơn 5,90% |
| Mật độ tảo cực đại |
$640.000\text{ ct/ml}$ (Ngày 3) |
$\mu = 11.948\text{ ct/ngày}$ |
$566.666\text{ ct/ml}$ (Ngày 3) |
$\mu = 11.943\text{ ct/ngày}$ |
NT1 mật độ sinh khối cao hơn |
Cơ chế và động học xử lý
- Động học sinh trưởng của tảo: Ở cả hai nghiệm thức, mật độ vi tảo giảm trong ngày đầu tiên ($100.000\text{ ct/ml}$ giảm xuống $58.667\text{ ct/ml}$ ở NT1 và $52.000\text{ ct/ml}$ ở NT2) do vi tảo bị sốc khi chuyển từ môi trường giàu dinh dưỡng Walne sang môi trường nước thải. Tảo thích nghi và bùng phát sinh khối đạt cực đại vào ngày thứ 3 ($640.000\text{ ct/ml}$ ở NT1 và $566.666\text{ ct/ml}$ ở NT2), sau đó bước vào pha suy tàn do cạn kiệt nguồn dưỡng chất cần thiết (ngày 7 giảm còn $71.667\text{ ct/ml}$ ở NT1 và $75.000\text{ ct/ml}$ ở NT2).
- Động học khử nitơ và phospho: Nồng độ $N\text{-}NH_4^+$, $TP$ và $P\text{-}PO_4^{3-}$ tăng nhẹ trong 1–2 ngày đầu do lượng dinh dưỡng bổ sung từ 70 ml môi trường Walne và sự giải phóng chất dinh dưỡng từ các tế bào tảo bị chết trong giai đoạn sốc môi trường. Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 6, vi tảo bước vào pha sinh trưởng mạnh, hấp thu ồ ạt nitơ và phospho, làm nồng độ các chất này trong nước suy giảm nhanh chóng.
- Vai trò của quá trình sục khí: Sự suy giảm $COD$ ($53,14% - 58,70%$) và $BOD_5$ ($52,86% - 58,76%$) chủ yếu diễn ra nhờ hoạt động phân hủy hiếu khí của quần thể vi sinh vật bản địa được thúc đẩy bởi quá trình sục khí liên tục.
Giải pháp và đóng góp của công trình
- Đề xuất công nghệ: Cần kết hợp công đoạn xử lý sơ bộ keo tụ – lắng bằng phèn trước khi đưa nước thải vào công trình sinh học nuôi vi tảo. Việc đưa hàm lượng $TSS$ về dưới $50\text{ mg/l}$ giúp cải thiện độ truyền quang của nước thải, tạo điều kiện cho vi tảo quang hợp tối đa, từ đó nâng cao vượt trội hiệu suất xử lý $TN$ (đạt $86,19%$) và $TP$ (đạt $60,84%$).
- Đóng góp khoa học: Đề tài cung cấp dữ liệu thực nghiệm có tính hệ thống về động học phát triển và khả năng chuyển hóa dinh dưỡng của vi tảo Chlorella sp. trên nền nước thải sinh hoạt thực tế tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, chứng minh tính khả thi của giải pháp kết hợp xử lý nước thải gắn với thu hồi sinh khối.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài:
- Nghiên cứu mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm theo chế độ mẻ gián đoạn dung tích nhỏ (8 lít nước thải), chưa vận hành theo mô hình dòng chảy liên tục.
- Sử dụng hệ thống chiếu sáng nhân tạo (đèn huỳnh quang $1.000\text{ lux}$) và sục khí liên tục 24/24 giờ, chưa phản ánh đầy đủ tác động của chu kỳ chiếu sáng tự nhiên ngày/đêm và sự biến thiên nhiệt độ thời tiết ngoài trời.
- Chưa tiến hành khảo sát các tỷ lệ pha loãng nước thải khác nhau hoặc tối ưu hóa mật độ cấy vi tảo ban đầu.
- Chưa thực hiện bước thu hoạch sinh khối vi tảo sau xử lý để phân tích hàm lượng lipid phục vụ định lượng khả năng sản xuất nhiên liệu sinh học.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô thử nghiệm ở hệ thống nuôi cấy liên tục dạng bể hở (raceway pond) hoặc hệ thống phản ứng quang sinh học (photobioreactor) sử dụng ánh sáng mặt trời tự nhiên.
- Nghiên cứu hoàn thiện các phương pháp thu hoạch sinh khối vi tảo (như sử dụng sinh vật lọc sinh học Daphnia, keo tụ sinh học hoặc lắng lọc) và đánh giá quy trình chiết xuất lipid sản xuất biodiesel từ bã sinh khối sau xử lý.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên và cán bộ nghiên cứu: Thuộc các chuyên ngành Kỹ thuật môi trường, Công nghệ sinh học môi trường, Quản lý môi trường và Nuôi trồng thủy sản.
- Kỹ sư thiết kế công trình xử lý nước thải: Tham khảo phương pháp tính toán, thiết kế công đoạn tiền xử lý keo tụ để nâng cao hiệu suất của các hồ sinh học hiếu khí/hồ sinh học nuôi tảo.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
- Quy trình phân tích các chỉ tiêu hóa lý môi trường ($TN$, amonia theo phương pháp Kjeldahl; $TP$, phosphate theo phương pháp trắc quang bước sóng 880 nm; buồng đếm Sedgewick-Rafter).
- Tập số liệu động học đối chứng 7 ngày giữa hai phương pháp tiền xử lý keo tụ phèn và lắng tự nhiên.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao nghiệm thức xử lý sơ bộ bằng keo tụ phèn (NT1) lại cho hiệu suất xử lý Tổng Nitơ và Tổng Phospho cao hơn hẳn nghiệm thức lắng tự nhiên (NT2)?
Xử lý sơ bộ bằng keo tụ phèn giúp loại bỏ phần lớn cặn lơ lửng, đưa chỉ tiêu $TSS$ từ $134\text{ mg/l}$ xuống còn $47\text{ mg/l}$ (đạt chuẩn loại A theo QCVN 14:2008/BTNMT), trong khi lắng tự nhiên chỉ hạ $TSS$ xuống $65\text{ mg/l}$. Hàm lượng cặn thấp giúp nước trong hơn, tăng khả năng truyền dẫn ánh sáng vào cột nước, từ đó thúc đẩy quá trình quang hợp, sinh trưởng và hấp thu dinh dưỡng của vi tảo Chlorella sp. diễn ra mạnh mẽ hơn.
2. Nguyên nhân nào khiến nồng độ amonia, phosphate và tổng phospho tăng nhẹ trong ngày đầu tiên của thí nghiệm?
Nồng độ các chất này tăng nhẹ ở ngày thứ nhất do hai nguyên nhân: thứ nhất, lượng giống tảo 70 ml bổ sung vào mô hình được nuôi giữ trong môi trường Walne có chứa sẵn nồng độ dinh dưỡng cao ($N\text{-}NO_3^- = 147,52\text{ mg/l}$, $N\text{-}NH_4^+ = 0,32\text{ mg/l}$, $P\text{-}PO_4^{3-} = 191,78\text{ mg/l}$); thứ hai, vi tảo bị sốc do chuyển môi trường đột ngột làm một lượng tế bào bị chết và phân hủy, giải phóng ngược lại một phần chất dinh dưỡng vào nguồn nước.
3. Mật độ tế bào vi tảo Chlorella sp. biến động như thế nào trong chu kỳ 7 ngày thí nghiệm?
Khởi đầu với mật độ $100.000\text{ tế bào/ml}$, mật độ tảo giảm nhẹ ở ngày thứ 1 ($58.667\text{ ct/ml}$ ở NT1 và $52.000\text{ ct/ml}$ ở NT2) do hiện tượng sốc môi trường. Đến ngày thứ 3, vi tảo thích nghi hoàn toàn và đạt đỉnh sinh trưởng cực đại ($640.000\text{ ct/ml}$ ở NT1 với tốc độ tăng trưởng $11.948\text{ ct/ngày}$; $566.666\text{ ct/ml}$ ở NT2 với tốc độ tăng trưởng $11.943\text{ ct/ngày}$). Sau ngày thứ 3, mật độ tảo suy giảm liên tục cho đến ngày thứ 7 (còn $71.667\text{ ct/ml}$ ở NT1 và $75.000\text{ ct/ml}$ ở NT2) do cạn kiệt nguồn chất dinh dưỡng trong nước thải.
4. Quá trình khử $COD$ và $BOD_5$ trong nghiên cứu chủ yếu diễn ra theo cơ chế nào?
Sự suy giảm của $COD$ (đạt $58,70%$ ở NT1 và $53,14%$ ở NT2) và $BOD_5$ (đạt $58,76%$ ở NT1 và $52,86%$ ở NT2) không chịu ảnh hưởng chính từ hoạt động của vi tảo, mà chủ yếu nhờ hệ thống sục khí liên tục đã cung cấp lượng oxy hòa tan dồi dào, thúc đẩy quá trình oxy hóa và phân hủy hiếu khí các hợp chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học của các vi sinh vật hiếu khí bản địa trong nước thải.
5. Hiệu suất xử lý Amonia ($N\text{-}NH_4^+$) giữa hai nghiệm thức được đánh giá như thế nào?
Mặc dù NT2 có tỷ lệ phần trăm xử lý amonia cao hơn về mặt số học ($79,52%$ so với $54,90%$ ở NT1), nhưng xét về khối lượng thực tế bị loại bỏ thì NT1 khử được $20,46\text{ mg/l}$ amonia ($37,27\text{ mg/l} \rightarrow 16,81\text{ mg/l}$), cao hơn mức khử $19,61\text{ mg/l}$ của NT2 ($24,66\text{ mg/l} \rightarrow 5,05\text{ mg/l}$) do nồng độ đầu vào của NT1 sau bước keo tụ cao hơn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Phương Dung đã chứng minh khả năng ứng dụng vi tảo Chlorella sp. trong việc xử lý triệt để nitơ và phospho trong nước thải sinh hoạt ở quy mô phòng thí nghiệm. Kết quả thực nghiệm khẳng định bước xử lý sơ bộ đóng vai trò then chốt: nghiệm thức keo tụ bằng phèn hạ $TSS < 50\text{ mg/l}$ giúp vi tảo đạt mật độ sinh trưởng cực đại $640.000\text{ ct/ml}$, đạt hiệu suất xử lý Tổng Nitơ $86,19%$ và Tổng Phospho $60,84%$ sau 7 ngày. Công trình cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực nghiệm quan trọng cho việc phát triển các mô hình hồ sinh học xử lý nước thải kết hợp thu hồi sinh khối vi tảo phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.