CHƯƠNG 1, TONG QUAN VE LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VA VUNG NGHIÊN COU L. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu LLL. Lĩnh vực cân bằng mước và ứng dụng mô hình tink toán cân bằng mước 1. Nghiên cứu ngoài nước Can bằng nước là sự thay đổi lưu lượng, tổng lượng dng chảy (số lượng nước) còn lại sau khi lấy lưu lượng, tổng lượng đồng chảy đ trừ đi lưu lượng, tổng lượng đồng chiy di, Cân bằng nước a nguyên lý cơ bản được sử đụng cho tinh toán quy hoạch và quản lý ải nguyên nước.
Nó biểu thi mốt quan hệ cân bằng giữa lượng nước đến, nước đi và lượng tữ của một khu vực, một lưu vue hoặc một bệ thống sông trong điều kiện tự nhiên hay có tác động của con người, Đổi với bài toán cân bằng nước lưu vục sông, các nghiên cứu trên thể giới cho thấy việc ứng dung các công cụ mô hình toän đã và đang đem lại nhũng thuận lợi cơ bản cho việc đánh giá nguồn nước trên lưu vực sông với độ chính xác cao. Một số mô hình tính toán cân bằng nước đang được sử dụng trên thể giới như GIBSI, BASINS, WEAP, Hệ thong mô hình GIBSI được áp dụng cho các lưu vực ở Canada có hệ sinh thái và tình hình phát tiễn công nghiệp, ông nghiệp, đô thị phức tạp. GIBSI là một hệ thống mô hình tổng hợp chạy trên máy PC cho các kết quả kiểm tra tác động của nông nghiệp, công nghiệp, quản lý nước cả về lượng và chất đến tải nguyên nước, Mô hình GIBSI cho khả năng dự báo các tác động của công ngh rùng, đô thi, các dự ấn nông nghiệp đối với moi trường tự nhiên, có tác dụng cảnh báo các hộ dùng nước biết trước và tôn trọng các tiêu chuẩn về số lượng, chất lượng nguồn nước dùng Mô hình BASINS được xây đựng bởi Văn phòng Bảo vệ Môi trường (Hoa Kỳ). Môi hình được xây dựng để đưa ra một công cụ đánh gia tốt hơn và tổng hợp hơn các nguồn phát thai tập trung và không tập trung trong công tác quản lý chit lượng nước trên lưu vực.
Đây là một mô hình hệ thống phân tích môi trường đa mục tiêu, có khả năng ứng dụng cho một quốc gia, một vùng để thực hiện các nghiên cứu về nước bao. gốm cả lượng và chất trên lưu vực, Mô hình được xây dựng để dip ứng 3 mục tiện trong công tác kiểm soát thông tin môi trường: (2) Hỗ trợ công tác phân tích hệ thống môi trưởng: (3) Cung cấp hệ thống các phương án quan lý lưu vực. Mô hình BASINS là một công cụ hữu ích tong công tác nghiên cứu vé chất và lượng nước. Với nhiều mô đun thin phần trong hệ thống, thi gian tinh toán được rút ngắn hơn, nhiều vẫn để được giải quyết hơn và các thông tin được quản lý hiệu quả hơn «gy.
tại bắt kỹ một vị trí nào. Các thành phần của mỗ hình cho phép người sử đụng số thé xắc định ảnh hưởng của lượng phát thi từ các điễm tập rung và không tập trung Mô hình BASIN được sử dụng rộng rãi ở Mỹ, nó thuận tiện trong việc lưu trừ và phân tích các thông in môi trường, và có thể sử dụng như là một công cụ hỗ trợ rà quyết định tong quá trình xây dựng khung quản lý lưu vực Mô hình WEAP của Viện nghiên cứu môi trường Stockholm là một công cụ được thiết i cho tính toán cân bằng nước phục vụ quy hoạch tổng hợp tai nguyên nước. Nó cung sắp một khung tổng hợp, mềm déo và thân thiện cho người ding trong việc thết lập xây dựng mô hình trong quy hoạch và phân tích đính giá. Mô hình này đã và đang được sử dụng tại nhiều nước trên thể gidi.Tinh đến thời điểm hiện tại, liên quan đến việc ứng đụng mô hình WEAP ở các nước trê thể giới có khoảng hơn 30 dự én đánh aid nước ở các quốc gia trên hầu hết các châu luc bao gdm Mỹ, Trung Quốc.
Thái Lan, ‘An Độ, Mexico, Brazil, Đức, Hàn Quốc, Ghana, Kenya, Nam Phi, Ai Cập 1. Nghiên cứu trong nước ‘Cin bằng nước lưu vực sông để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội đã được thực hiện từ. nhiều năm nay ở Việt Nam. dung cân bằng nước cũng trổ thành một trong những nội dung kinh điển trong hầu hết các tỉnh toán đánh gi nguồn nước lưu vực sông và qạuy hoạch thủy lợi.
Đối với lưu vực sông Đằng Nai, cho đến nay đã cỏ nhiều nghiên và đánh giá cân bằng nước, có thé ligt kẻ sau diy: tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KC12-05 "Nghiên cứu cân bằng, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả nguồn nước miễn Đông Nam Bộ và khu VI" thuộc Chương trình Khoa học-Công nghệ Nhà nước KC-12, 1994-1996, do Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam Bộ (nay là Viện Quy hoạch Thủy lợi mi Nam) thực hi có thể xem là nghiên cứu cân bằng nước hoàn chỉnh đầu ên trên lưu vực này, ĐỀ đđã đánh giá một cách tổng quan về iểm năng nguồn nước, nhủ cầu sử dụng theo các giai đoạn khác nhau, ứng dung các công cụ tiê tiến phục vụ bài toán cân bằng như mô. hình mua-dng chảy RRMOD (Mỹ), TANK (NhậU, mô hình cân bằng nước lưu vực xông MITSIM (Mỹ) và mô hình thủy động lực học và xâm nhập mặn VRSAP (Pgs Nguyễn Như Khuê, Viện QHTNMN). Tuy nhi trong để tai này, các vẫn đề liên quan đến biến đổi khí hậu chưa được đề cập đến 6] - Luận văn cao học của Ths. Nguyễn Ngọc Anh, 2000 “Quin lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai”.
Luận văn đã nhủ cầu nước và cân bằng nước trên lưu vực sông; VỀ quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng nguồn nước; VỀ những khía cạnh pháp lý và tổ chức quản lý lưu vực sông. một cách đầy đủ và tổng thể. Tuy nhiệ „những vấn dé về biến đổi khí lậu cũng chưa được đề cập đến J7] ~ Để tài nghiên cứu khoa học cắp Bộ “Nghién cứu xây dựng chiến lược quản lý phát tiển bên vững lưu vực sông Ding Nai" do Gs. Ts, Dio Xuân Học (Trường Đại học Thuy lợi) chủ trì thực hiện năm 2004.
Đề có mục tiê nhiệm vụ là (1) Đánh giá tải nguyên Đắt Nước-Rũng và hiện trang khai thác lưu vực sông Đồng Nai (LVSBN): (2) Đánh gid hiện trạng kính tổ-xã hội trên địa bản lưu vực sông Đồng Nai và những túc động bất lợi của quá tình phát triển đó đổi với khai thác tài nguyên và bảo vệ mỗi trườn) ự gia tăng ảnh hưởng của thiên tai đối với phát tr vững; (3) Để xuất sắc biện pháp bảo vệ ti nguyên Đắt-Nuớc-Rững: (4) ĐỀ xuất các mục tiêu kính tế xã hội g ti với chiến lược quản lý phát triển 1 vững LVSDN; (5) ĐỀ xuất các quy hoạch liên ngành, liên tỉnh và công tác quản lý Nhà nước trong chiến lược quản lý phát triển bén vững lưu vực; (6) Giáo dục nhận thức v8 môi trường và phát tiễn bên vững cho mọi người. Về công cụ ứng dụng phục vụ cho vige tính toán cân bằng nước cũng 4a ứng dụng các công cụ như MITSIM, VRSAP bên cạnh kết hợp các công cụ GIS, Viễn thám trong giải đoán ảnh và tí hợp, phân tích đánh giá kết qui, Trong đề tài này cũng đã thực hiện một chuyên đề liên quan trực tiếp đến bài toán cân bằng nước: trên lưu vực do Trường ĐHTL phối hợp với Viện QHTNMN thực hiện. ẻ ig nước nà) "ngoài những cập nhật vềé nhủ cầu sử dụng nước trong éi cảnh huyền để đã ứng dụng các công cụ mô hình như MITSIM, VRSAP để tinh toán ảnh giá cân bằng lưu vực sông. các vẫn đ liên quan đến biển đổi khí hậu cũng chưa được nghiên cứu trong đề tài này IS] Đối với mô hình WEAP, tính đến nay ở Việt Nam cũng đã có một số đề tài và dự án ứng dụng mô hình WEAP vào tính toán cân bằng nước cho lưu vực sông như: ~ Bai báo được công bé trên tạp chí “Khoa học kỹ thuật thuỷ lợi và môi trường” số 48 (03/2015) của TS.
Hoàng Thanh Tùng, trường đại học Thủy Lợi, "Nghiên cứu phân bổ nguồn nước trên lưu vực sông Ba”. bài báo đã sử dung mô hình WEAP để tính toán. in bằng nước ngoài ra còn đánh giá hiệu quả kinh tế trong từ vệ sử dụng nước cho các kịch bản đưa ra nhờ sử dụng mô đun tính toán kinh tế trong mô hình WEAP. [9] = Luận vin cao học của ThS, Bùi Hit Ninh,2014 * Nghiên cứu gii pháp quản lý tà nguyên nước rên lưu vực sông Cầu”.
Luận văn sử đụng mô hình WEAP để phân tích tính toán cân bằng nước, phân bổ nguồn nước đánh giá khả năng cấp nước trên lưu vực sông Câu. Lĩnh vực về biển đỗi khí hậu. Tình hình nghiên cứu biển đất khí hậu trên thể giới Vin dé biến đổi khí hậu (BĐKH) đã được các nhà khoa học nổi tiếng rên thể giới nghiên cứu với quy mô toàn cầu từ đầu thập kỷ 90 của thể kỷ trước, Hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc triệu tập tại Rio de Janeiro năm 1992 đã thông qua Hiệp định khung 4 chương trình hành động quốc tế nhỉ ¡" nhanh chồng của du khí quyén tái it. Từ đó tổ chức liên chính phủ và BĐKH của Liên hiệp quốc (đPCC) đã được thành lập, thu hút sự tham gia của hàng ngàn nhà khoa học quốc tẾ Bằng chứng về sự biến đổi của các hiện tượng thời it, khí hậu cục đoạn đã được nghiên cứu khá nhiều dựa trên số liệu quan trắc lịch sử.
Theo IPPC (2007), hậu quả. của sự nồng lên toàn cầu là nhiệt độ không khí rung bình toàn cầu ting lên. đặc biệt từ sau những năm 1950. Tính trên chuỗi số liệu 1906 - 2005 nhiệt độ không khí trung bình toàn cầu tăng 0,18 — 0,74°C, Các năm 2005 và năm 1998 là những năm nóng nhất kể từ 1850 đến nay.
Nhiệt độ năm 1998 tăng lên được xem là do hiện tượng: EI Nino (1997 = 1998), nhưng đị hường nhiệt độ lớn nhất lai xây ra vào năm 2005 Trong 12 năm gin đây, từ 1995 — 2006 có 11 năm (tir 1996) là những năm nóng nhất kể từ 1850. Biến đổi của các cực trị nhiệt độ nhìn chung phù hợp với sự nóng lên toàn cầu Hạn hin nặng hơn và kéo dii hơn đã được quan trắc thấy trên nhiều vùng khác nhau với phạm vi rộng lần hơn, đặc biệt ở cá vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ sau những. năm 1970, Nền nhiệt độ cao và giáng thủy trên các vùng lục địa là một trong những nguyên nhân của hi tượng này.