CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan các nghiên cứu về môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đóng vị trí quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học với nhiều hình thức từ đề tài cấp nhà nước, các dự án, các báo cáo khoa học của các Viện nghiên cứu, Trường Đại học đánh giá chất lượng môi trường lưu vực sông Nhuệ - Đáy và từ đó cơ sở đề xuất xây dựng các giải pháp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường nước hệ thống sông này, về tổng quan có thể chia thành các hướng nghiên cứu sau: 1. Xây dựng và ban hành cơ chế chính sách, thể chế Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã xây dựng hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý các LVS của nước ta.
Quốc hội đã ban hành một loạt các đạo luật nhằm Bảo vệ môi trường nói chung và môi trường nước LVS nói riêng như: Luật thuế tài nguyên năm 2009, Luật khoáng sản, Luật thanh tra, Luật xử lý vi phạm hành chính,. Đặc biệt Luật BVMT (năm 2005 và sửa đổi năm 2014) và Luật Tài nguyên nước (sửa đổi năm 2012). Đây là các đạo luật quan trọng để thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật trong quản lý tổng hợp Tài nguyên nước. Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012.
Luật Tài nguyên nước 2012 bao gồm nội dung quy định quản lý LVS như Điều 3, Điều 6, Điều 7, Mục 2,. Nội dung của Luật tài nguyên nước tập trung vào quản lý, vận hành, quản lý LVS, tuy nhiên các vấn đề liên quan đến quản lý môi trường LVS như quản lý nguồn thải, xử lý ô nhiễm,. chưa được quy định. Ngày 23 tháng 6 năm 2014, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã dành nhiều nội dung về vấn đề bảo vệ môi trường nước lưu vực sông với các nội dung được quy định cụ thể trong Mục 1, Chương VI (từ Điều 52 đến Điều 55), trong đó có những vấn đề mới về quản lý đã được quy định như việc điều tra, đánh giá sức chịu tải của lưu vực sông, xác định hạn ngạch xả nước thải vào sông, vấn đề quản lý chất lượng nước và nguồn thải ra môi trường nước cũng được chú trọng hơn so với Luật bảo vệ môi trường 2005. Đồng thời, Luật BVMT 2014 phân định trách nhiệm rõ ràng trong BVMT nước sông giữa UBND cấp tỉnh và Bộ TN&MT. 4 Triển khai thực hiện Quyết định số 25/2014/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Môi trường, trong đó thành lập Chi cục BVMT lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy. Đến nay Chi cục đã được thành lập và đi vào hoạt động theo Quyết định số 1759/QĐ-TCMT ngày 24 tháng 12 năm 2014 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục BVMT lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy.
Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tiến hành xây dựng “Chương trình mục tiêu hỗ trợ xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc đối tượng công ích giai đoạn 2016-2020” (Chương trình giai đoạn 2016-2020) kế thừa những kết quả đạt được và tiếp tục triển khai các hoạt động của “Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012-2015” (Chương trình giai đoạn 2012-2015). Chương trình giai đoạn 2016-2020 đã tập trung vào 02 vấn đề chính gồm: xử lý triệt để các bãi rác đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường tại các điểm tồn lưu bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng do hóa chất BVTV. Đối với nội dung thu gom, xử lý nước thải từ các đô thị loại II trở lên thuộc ba lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, sông Cầu và hệ thống sông Đồng Nai của Chương trình giai đoạn 2012-2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang đề nghị bổ sung vào Chương trình giai đoạn 2016-2020. Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 223/QĐ-TTg ngày 12 tháng 02 năm 2015 phê duyệt Quy hoạch Quản lý chất thải rắn lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2030; Quyết định 681/QĐ-TTg ngày 13 tháng 5 năm 2013 phê duyệt Quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lý nước thải khu vực dân cư, khu công nghiệp thuộc lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2030.
Nghiên cứu về quản lý sử dụng hợp lý tài nguyên nước của lưu vực sông Các tỉnh trong LVS Nhuệ - Đáy mà đại diện là UBND thành phố Hà Nội năm 2008 xây dựng Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2020, đề án này đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt với định hướng chính đến năm 2020 sẽ: (i) Hạn chế, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy; từng bước xử lý ô nhiễm, cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường và chất lượng nước các dòng sông, tạo hệ thống dòng chảy ổn định, bảo vệ 5 các công trình thủy lợi an toàn, bền vững; (ii) Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống cơ chế, chính sách đồng bộ nhằm khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước, môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy; thiết lập mô hình quản lý môi trường lưu vực phù hợp để khai thác, sử dụng bền vững, duy trì cân bằng nguồn nước, bảo vệ môi trường và cảnh quan sinh thái, phục vụ có hiệu quả nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên toàn lưu vực. Tác giả Nguyễn Văn Cư và nnk, 2005 [15] đã nghiên cứu các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy. Nhóm tác giả cũng đã bước đầu ứng dụng phương pháp mô hình toán để mô phỏng diễn biến ô nhiễm trên hệ thống sông Nhuệ - sông Đáy Cục Quản lý Tài nguyên nước và Viện Sinh thái và Môi trường, 2005 [11] đã thực hiện nghiên cứu “Nhu cầu cấp nước, sử dụng nước và tính kinh tế của tài nguyên nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy” đã xây dựng mối tương quan giữa các khía cạnh chính của cách tiếp cận kinh tế trong việc quy hoạch phân bổ tài nguyên nước. Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng một quy trình hướng dẫn từng bước trong quy hoạch phân bổ tài nguyên nước phù hợp với điều kiện Việt Nam; ứng dụng thí điểm quy trình này ở lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy ở thời điểm hiện tại và dự báo trong tương lai; xây dựng các phương pháp đánh giá nhanh khía cạnh kinh tế về số lượng và chất lượng tài nguyên nước, hỗ trợ cho việc ra quyết định.
Nghiên cứu về kiểm soát ô nhiễm trên lưu vực Trung tâm Tư vấn Khí tượng Thủy văn và Môi trường, 2009 [65] đã nghiên cứu cải thiện chất lượng sông Nhuệ - Đáy bằng cách đánh giá sức chịu tải và kiểm kê các nguồn gây ô nhiễm nghiên cứu này đã đưa phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu sức chịu tải và kiểm kê các nguồn gây ô nhiễm cũng như lan truyền các chất ô nhiễm trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy đồng thời cũng đề cập đến các ảnh hưởng đến sức khỏe do ô nhiễm nguồn nước. Nghiên cứu này đã đánh giá được khả năng chịu tại thông qua tải lượng được tính toán thông qua kịch bản phát triển KTXH, việc đánh giá thay đổi dòng chảy theo kịch bản BĐKH chưa được xem xét. Trong những năm qua Tổng Cục môi trường đã xây dựng cổng thông tin giám sát môi trường lưu vực sông Nhuệ - Đáy, công thông tin này đã ứng dụng GIS để quản lý các đối tượng dữ liệu không gian, cung cấp các bản đồ chuyên đề, thực hiện các phép phân tích không gian, phân tích mạng lưới,… Cung cấp các số liệu quan trắc trực tuyến với các thông số như: NH4+, NO2-,. Sử dụng số liệu từ các trạm tự 6 động, các trạm thu mẫu để xây dựng báo cáo đánh giá hàng năm, ngoài ra sử dụng Camera để giám sát nước tại một số điểm nhạy cảm.
Cổng thông tin này cũng xây dựng bản đồ các nguồn thải với những dữ liệu thông tin về nguồn thải phục vụ cho công tác kiểm soát các nguồn thải này. Thành phố Hà Nội đã thực hiện nhiệm vụ “ Khảo sát, lấy mẫu hiện trạng, phân tích chất lượng các nguồn thải lỏng đổ vào lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy” đối với 607 điểm xả thải trên địa bàn 14 quận, huyện: Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm, Hà Đông, Thanh Trì, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên; Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, Quốc Oai, Chương Mỹ, Ứng Hòa, Mỹ Đức. Ngoài ra, thành phố đã tiếp tục triển khai thực hiện việc quan trắc, phân tích chất lượng nước sông Nhuệ, sông Đáy vào 02 đợt (mùa mưa và mùa khô) tại 16 điểm trên sông Nhuệ và 20 điểm trên sông Đáy. Nghiên cứu áp dụng các mô hình mô phỏng để phân tích đánh giá hiện trạng, dự báo và đề xuất các giải pháp quản lý bền vững Tác giả Trần Hồng Thái và nnk, 2009 [65] đã nghiên cứu “Mô phỏng chất lượng nước 3 lưu vực sông: Cầu, Nhuệ - Đáy, Sài Gòn - Đồng Nai” thực hiện nghiên cứu về vấn đề mô phỏng và dự báo chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ và sông Đáy.
Nhóm tác giả đã ứng dụng mô hình toán hiện đại (MIKE11 - Viện Thủy lực Đan Mạch) áp dụng cho dòng chảy một chiều không ổn định để mô phỏng chế độ thủy lực, diễn biến và dự báo chất lượng nước trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy ứng với các kịch bản phát triển kinh tế xã hội và xử lý nguồn thải trước khi đổ ra sông. Từ đó, nhóm tác giả đã sơ bộ đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong khu vực.