phần mở đầu và phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chƣơng 2: Một phần thực trạng về dạy và học “Bài toán tìm thiết diện” trong chƣơng trình hình học không gian lớp 11 ở trƣờng THPT. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.
Tiếp cận lý thuyết kiến tạo trong nghiên cứu và thực hành dạy học toán ở trƣờng THPT 1. Quan niệm về kiến tạo trong dạy học 1. Khái niệm về kiến tạo Động từ kiến tạo chỉ hoạt động của con ngƣời tác động lên một đối tƣợng, hiện tƣợng, quan hệ nhằm mục đích hiểu chúng và sử dụng chúng nhƣ những công cụ kí hiệu để xây dựng nên các đối tƣợng, các hiện tƣợng, các quan hệ mới hơn theo nhu cầu của bản thân. Quan điểm kiến tạo trong dạy học Lí thuyết học tập theo thuyết kiến tạo hàm ý những kinh nghiệm học tích cực, trong đó học sinh tham gia nhiệt tình vào việc phát hiện, giải quyết vấn đề và thử nghiệm với các tƣ liệu và sự vật trong môi trƣờng của họ.
Mục tiêu là cho phép học viên chủ động hết mức có thể trong quá trình học của bản thân và giáo viên cung cấp cho học viên bộ khung (các thông tin giúp ích trong việc lập kế hoạch, gợi ý về tiến độ và các phƣơng pháp giải quyết vấn đề hữu ích) để hỗ trợ việc học tập của họ [24,tr. Có nhiều quan niệm khác nhau về dạy học theo quan điểm kiến tạo, tuy nhiên thuyết kiến tạo dựa chủ yếu vào hai lí thuyết gia, những ngƣời mà đầu thế kỉ XX đã nghiên cứu về sự phát triển nhận thức và tƣ duy ở trẻ em và thanh thiếu niên. Đó là nhà tâm lí học ngƣời Thụy Sĩ Jean Piaget và nhà tâm lí học ngƣời Nga Lev Vygotsky. Jean Piaget - Điều ứng và đồng hóa: Jean Piaget tiến hành các nghiên cứu với trẻ em trong các thập niên 1920 và 1930 để tìm hiểu xem chúng nghĩ và hiểu thế nào về thế giới.
Ông kết luận rằng trẻ em hình thành kiến thức từ kinh nghiệm, chứ không phải từ việc tiếp thu những kiến thức đƣợc giới thiệu cho chúng. Luận điểm của ông cho rằng trẻ em hình thành niềm tin và hiểu 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biết thế giới từ kinh nghiệm đã đặt cơ sở cho lí thuyết học tập theo thuyết kiến tạo. Nhƣ Piaget đã mô tả, trẻ em sắp xếp các ý nghĩ hoặc hành động thành các cấu trúc nhận thức từ những gì chúng làm và quan sát đƣợctrong các tình huống cụ thể ngoài môi trƣờng. Ông gọi các cấu trúc nhận thức này là “các sơ đồ”, hoặc việc nhóm các ý nghĩ hoặc hành động tƣơng tự.
Khi trẻ em lớn lên và trƣởng thành, ý nghĩa và hành động của chúng đƣợc mở rộng, điều chỉnh và hoàn thiện. Ông sử dụng thuật ngữ “thích nghi” để chỉ quá trình trẻ em hoàn thiện và điều chỉnh kinh nghiệm. Thích nghi có nghĩa tƣơng tự nhƣ thuật ngữ “học” của chúng ta, và bao gồm các quá trình “đồng hóa” và “điều ứng” bổ sung cho nhau. Thuật ngữ “đồng hóa” đƣợc Jean Piaget miêu tả là một quá trình tiếp nhận thông tin bao gồm cả thông tin mới, trong một sơ đồ hiện thời, trong khi thuật ngữ “điều ứng” hàm ý hình thành một sơ đồ hoàn toàn mới hoặc sửa đổi một sơ đồ hiện thời để phù hợp với một tình huống hoặc tập hợp kiến thức mới và lạ lẫm.
Jean Piaget sử dụng thuật ngữ “trạng thái cân bằng” để giải thích rằng trẻ em cố gắng tạo cân bằng giữa đồng hóa và điều ứng thông tin vào những sơ đồ hoặc cấu trúc trí tuệ của chúng. Sử dụng kiến thức có sẵn (đồng hóa) để giúp hiểu kiến thức mới tốt hơn (điều ứng). Điều ứng + Đồng hóa = Thích nghi Đồng hóa: quá trình tiếp nhận thông tin, bao gồm cả thông tin mới, trong phạm vi một sơ đồ hiện có. Điều ứng: quá trình hình thành một sơ đồ hoàn toàn mới hoặc sửa đổi một sơ đồ hiện có để phù hợp với một tình huống hoặc tập hợp kiến thức mới và lạ lẫm 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Quá trình đồng hóa và điều ứng trong kiến tạo toán [6] ĐỒNG HÓA VÀ ĐIỀU ỨNG TRONG KIẾN TẠO Tri thức Tri thức mới mới Kinh nghiệm có sẵn Kinh nghiệm có sẵn ĐỒNG HÓA ĐIỀU ỨNG 6 “Vùng phát triển gần” của Vygotsky Nhà tâm lí học ngƣời Nga Lev Vygotsky cũng đã nghiên cứu tƣ duy của trẻ em trong các thập niên 1920 - 1930 và đi đến quan điểm cho rằng ngƣời lớn hỗ trợ trẻ em phát triển nhận thức theo một cách thức tƣơng đối có hệ thống.
Đó là vì ngƣời lớn thƣờng xuyên đƣa trẻ em tham gia vào hoạt động trò chuyện có nội dung và những quan sát giúp trẻ em nhận thức đƣợc thế giới. Vygotsky tin rằng ảnh hƣởng của xã hội và văn hóa là rất quan trọng để phát triển nhận thức, và lí thuyết của ông đƣợc biết đến với tên gọi khía cạnh văn hóa - xã hội của việc học tập. Khái niệm “vùng phát triển gần”(ZPD) là nguyên tắc trung tâm trong lí thuyết của Vygotsky. “Vùng phát triển gần” theo định nghĩa của ông là “sự khác biệt giữa mức độ phát triển thực tế (xác định bởi khả năng giải quyết vấn đề một mình) và mức độ phát triển có thể đạt đƣợc (xác định thông qua khả năng giải quyết vấn đề khi có sự giúp đỡ, hƣớng dẫn của ngƣời lớn hoặc cộng 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác với ngƣời có kiến thức nhiều hơn)”.
Khoảng cách giữa mức độ phát triển thực tế và mức độ phát triển tiềm năng (ZPD) sẽ đƣợc thu hẹp ở mức tối thiểu trong những tình huống chẳng hạn nhƣ khi học sinh gặp phải những bài tập khó mà họ cảm thấy không có đủ năng lực để hoàn thành. Một số luận điểm về dạy học theo quan điểm kiến tạo Xuất phát từ quan điểm của J.Piaget về bản chất của quá trình nhận thức, các vấn đề về kiến tạo dạy học đã thu hút ngày càng nhiều các công trình của các nhà nghiên cứu và xây dựng nên những lí thuyết về kiến tạo. Là một trong những ngƣời tiên phong trong việc vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học, Von Glaserfeld đã nhấn mạnh một số luận điểm cơ bản làm nền tảng của lí thuyêt kiến tạo [13]: Luận điểm 1) Tri thức đƣợc tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn nhận thức toán học.
Chẳng hạn, để học sinh có đƣợc quy tắc hình bình hành thì giáo viên không giới thiệu cho học sinh quy tắc đó ngay mà thông qua các tình huống thực tiễn, tình huống trong nội bộ toán để học sinh khảo sát chúng; bằng các hoạt động trí tuệ nhƣ so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa để tự mình rút ra đƣợc quy tắc. Ví dụ: Xuất phát từ tình huống vật lí: “Một vật đang đứng yên, ngƣời ta tác động vào nó 3 lực có độ lớn bằng nhau đôi một tạo với nhau một góc 1200; yêu cầu học sinh giải thích tại sao vật đứng yên”. Việc giải thích dẫn tới quy tắc hình bình hành. Cũng có thể xuất phát từ quy tắc 3 điểm (không thẳng hàng) về cộng vectơ và dựa vào khái niệm véc tơ bằng nhau để dẫn tới quy tắc hình bình hành.
Giả thuyết này của lí thuyết kiến tạo cũng hoàn toàn phù hợp với quan điểm của J.Piaget “Những ý tƣởng cần đƣợc trẻ em tạo nên chứ không phải 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đƣợc tìm thấy nhƣ một viên sỏi hoặc nhận đƣợc từ tay ngƣời khác nhƣ một món quà”. Luận điểm 2) Nhận thức là quá trình thích nghi chủ động với môi trƣờng nhằm tạo nên các sơ đồ nhận thức của chính chủ thể chứ không khám phá một thế giới tồn tại độc lập bên ngoài chủ thể. Nói nhƣ vậy có nghĩa là ngƣời học không phải thụ động tiếp thu kiến thức do ngƣời khác áp đặt lên mà chính bản thân họ hoạt động kiến tạo kiến thức mới. Luận điểm 3) Kiến thức và kinh nghiệm mà cá nhân học sinh thu nhận đƣợc phải phù hợp với những yêu cầu mà tự nhiên, xã hội đặt ra.
Luận điểm này hƣớng việc dạy cần gắn với các nội dung, thực tiễn phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, đáp ứng những nhu cầu xã hội đặt ra. Luận điểm 4) Kiến thức đƣợc học sinh kiến tạo thông qua con đƣờng đƣợc mô tả theo sơ đồ sau: KT và kinh Phán đoán, Kiểm Thích Kiến thức nghiệm đã có giả thuyết nghiệm nghi mới Thất bại Cũng có ý kiến cho rằng những quan niệm chính của thuyết kiến tạo nhƣ sau: • Không có tri thức khách quan tuyệt đối. Tri thức đƣợc xuất hiện thông qua việc chủ thể nhận thức tự cấu trúc vào hệ thống bên trong của mình, vì thế tri thức mang tính chủ quan. • Với việc nhấn mạnh vai trò chủ thể nhận thức trong việc giải thích và kiến tạo tri thức, thuyết kiến tạo thuộc lý thuyết định hƣớng chủ thể.
• Cần tổ chức sự tƣơng tác giữa ngƣời học và đối tƣợng học tập, để giúp ngƣời học xây dựng thông tin mới vào cấu trúc tƣ duy của chính mình, đã 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đƣợc chủ thể điều chỉnh. • Học không chỉ là khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc mới tri thức.62] Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể rút ra một số những đặc điểm cơ bản của học tập theo thuyết kiến tạo: • Tri thức đƣợc lĩnh hội trong học tập là một quá trình và sản phẩm kiến tạo theo từng cá nhân thông qua tƣơng tác giữa ngƣời học và nội dung học tập. • Về mặt nội dung, dạy học phải định hƣớng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gần với cuộc sống và nghề nghiệp, đƣợc khảo sát một cách tổng thể. • Việc học tập chỉ có thể đƣợc thực hiện trong hoạt động tích cực của ngƣời học, vì chỉ từ những kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân thì mới có thể thay đổi và cá nhân hóa những kiến thức và kỹ năng đã có.
• Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng, thông qua tƣơng tác xã hội trong nhóm góp phần cho ngƣời học tự điều chỉnh sự học tập của bản thân. • Học qua sai lầm là điều có ý nghĩa.