đặt vấn đề nghiên cứu:” xác định tỉ lệ nhiễm vi rút viêm gan B(HBsAg) và viêm gan C(Anti HCV) trong huyết thanh người tại một xã vùng Đồng Bằng Bắc Bộ Việt Nam năm 2011’’ với mục tiêu của đề tài: 1. Xác định tỉ lệ người mang HBsAg(+) và anti HCV(+) tại một xã vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam và một số yếu tố liên quan 2. Tìm hiểu đặc điểm dân cư, nghề nghiệp và nhận thức của học sinh trung học cơ sở ( THCS ) về viêm gan B và viêm gan C. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngô Thị Quỳnh Trang Luận văn thạc sĩ khoa học Chƣơng I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đặc điểm sinh học vi rút viêm gan B và viêm gan C: 1. Lịch sử phát hiện vi rút viêm gan B và viêm gan C: 1. Lịch sử phát hiện vi rút viêm gan B: Năm 1964 Baruch Blumberg đã mô tả một loại kháng nguyên (KN) đặc trưng ở thổ dân châu Đại Dương gọi là “KN Australia”.Đến năm 1968, phát hiện thấy trong máu bệnh nhân viêm gan B mãn tính có tiểu thể hình cầu và hình sợi, đường kính 27nm không chứa ADN. Đó chính là KN bề mặt HBsAg ( hepatitis B surface antigen).
Hai tiểu thể này không phải là HBV(Hepatitis B virus) hoàn chỉnh vì thiếu genom. Năm 1970, người ta phát hiện thấy trong máu bệnh nhân viêm gan B có các thể hình cầu, đường kính 42nm, bên trong chứa ADN kép gọi là tiểu thể Dane. Sau này xác định chính tiểu thể Dane mới là HBV thực sự[47] 1. Lịch sử phát hiện vi rút viêm gan C: Vào năm 1970 Harvay J.
Alter chứng minh là nhiễm virus sau truyền máu phần lớn là do virus viêm gan không phải A và cũng không phải B được đặt tên là virus không A không B. 17 năm sau Michael Houghton, qui-lim Choo và tập đoàn, Gorge K dùng sinh học phân tử định clon để định tính virus không A không B. Năm 1989 đã xác định vi rút không A không B có tên chính thức là viêm gan virus C và được công bố bằng 2 bài trên báo Science. Hình thái và cấu trúc vi rút viêm gan B và viêm gan C: 1.
Hình thái HBV và HCV Hình thái HBV: HBV là vi rút có kích thước nhỏ với đường kính 22-45nm Trong huyết thanh bệnh nhân ở giai đoạn hoạt động nhân đôi virus, dưới kính hiển vi điện tử người ta thấy có 3 tiểu thể khác nhau của vi rút: -Tiểu thể hình cầu nhỏ có đường kính 22nm -Tiểu thể hình ống( hình que) có đường kính 20-22nm dài 40-400nm -Tiểu thể hình cầu lớn có đường kính 42-45nm còn gọi là tiểu thể Dane đây chính là vi rút hoàn chỉnh 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngô Thị Quỳnh Trang Luận văn thạc sĩ khoa học Hình 1. Hình ảnh HBV chụp dƣới kính hiển vi điện tử Hình thái HCV: HCV là loại vi rút hướng gan dưới kính hiển vi điện tử người ta phát hiện HCV có hình cầu, đa diện hoặc hình que, kích thước nhỏ 55-65nm Hình 1. Hình ảnh HCV chụp dƣới kính hiển vi điện tử 1. Cấu trúc HBV và HCV: Cấu trúc HBV: Genom của HBV là ADN có cấu trúc mạch kép không hoàn toàn, kích thước 3200 bazo được cấu tạo bởi 2 sợi có chiều dài không bằng nhau.
Chuỗi dài nằm ngoài có tính cực âm, tạo nên một vòng tròn liên tục có chiều dài cố định 3,2 Kb và mã hóa cho các thông tin di truyền của virus. Chuỗi ngắn nằm trong có cực tính dương thay đổi và chỉ bằng 50-80% chiều dài sợi âm. HBV có cấu trúc đặc biệt nhỏ gọn có genom chồng lớp gồm 4 khung đọc mở S, C, P và X 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngô Thị Quỳnh Trang Luận văn thạc sĩ khoa học. Cấu trúc genome của HBV Cấu trúc HCV: HCV có genome là một vòng ARN(+) và chỉ có một khung đọc mở (ORF) mã hóa cho một polyprotein có trọng lượng phân tử lớn gồm 3000 aa.
Polyprotein lớn này sau đó được các enzym của tế bào và của chính nó cắy thành các protein có chức năng: tham gia vào cấu trúc của virut hoặc thực hiện chức năng sinh học trong sự tồn tại và nhân lên của virus Hệ gen của HCV có 2 vùng: Vùng cấu trúc nằm ở đầu 5’ phần không mã hóa, gồm các gen: C, E1, E2, P7 Vùng không cấu trúc: nằm ở đầu 3’ phần không mã hóa có các ge NS2, NS3, NS4, NS5 là các gen mã hóa cho các protein chức năng :protease, RNA-polymerase và các peptit tham gia quá trình sao chép virut và cắt đọan polyprotein. [9] Màng vỏ glycoprotein Core Màng vỏ ARN virus Kích thước khoảng 60nm Hình 1. Cấu trúc virut viêm gan C 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngô Thị Quỳnh Trang Luận văn thạc sĩ khoa học 1. Quá trình nhân lên của HBV và HCV: 1.
Quá trình nhân lên của HBV: Trước tiên HBV gắn đặc hiệu vào thụ thể dành cho IAg nằm trên bề mặt tế bào gan. Sau khi cởi bỏ vỏ ngoài, nucleocapsid di chuyển vào vùng nhân. Sau khi cởi vỏ capsid, ADN kép với 2 sợi không bằng nhau được chui vào nhân để chuyển hóa thành dạng ADN kép khép vòng, siêu xoắn (cccADN). Dạng này được dùng làm khuôn để tổng hợp 4 loại ARN 3,5; 2,4; 2,1 và 0,7 kb.
Các ARNm được gắn đuôi và di chuyển ra tế bào chất. ARNm 3,5kb gọi là ARN tiền genom dùng để tổng hợp genome. Các ARNm còn lại được gọi là dưới genom dùng để tổng hợp các protein khác nhau trong đó có AND polymerase (P), protein lõi C, polypeptide X, Protein bề mặt S và proteinkinaza. Protein lõi C tạo thành nucleocapsid (HBeAg).
Polypeptid tiền lõi được vận chuyển đến mạng lưới nội chất, từ đó chúng được tiết ra ngoài dưới dạng KN tiền lõi ( HBeAg). ARN tiền genom được đóng gói cùng với ADN- polymerase của virus và protein kinase để tạo thành hạt lõi. Ở đây, tiền genome được dùng làm khuôn để tổng hợp các chuỗi ADN (-) (sợi L) theo cơ chế sao chép ngược. Protein X tương tác với các yếu tố phiên mã trong nhân được kích thích bởi tín hiệu từ tế bào chất.
Protein vỏ ngoài (S) gắn vào màng lipit của bộ máy golgi và màng lưới nội chất để sau đó nucleocapsid nảy chồi vào màng lưới nội chất và bộ máy golgi để biến chúng thành vỏ ngoài của virus tương lai. Polymerase của HBV phân giải ARN tiền genom chỉ để lại đoạn nhỏ( 29 cặp bazo ở đầu 5’) dùng làm mồi tổng hợp ADN (+) trên khuôn ADN (-). Một số genome trưởng thành sau khi tổng hợp lại được quay về nhân để chuyển thành cccADN nhằm duy trì một lượng khuôn ổn định cho dịch mã, còn phần lớn được lắp ráp hoàn chỉnh rồi nảy chồi ra ngoài để lặp lại chu trình nhân lên ở tế bào gan khác. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngô Thị Quỳnh Trang Luận văn thạc sĩ khoa học Trong quá trình nhân lên, vi rút luôn tổng hợp thừa protein vỏ nên trong huyết thanh người bị nhiễm HBV, ngoài vi rút hoàn chỉnh ( hạt Dane) còn xuất hiện các hạt không hoàn chỉnh hình cầu, hình que hoặc hình sợi.
Chu trình nhân lên của HBV 1. Quá trình nhân lên của HCV: Bước đầu HCV xâm nhập vào trong tế bào. Protein E2 có ái lực mạnh với CD81, một loại tetraspaspamin có trên bề mặt nhiều loại tế bào kể cả tế bào gan và có thêm các đồng tiếp nhận lớp B typ1 SR-B1 và CLDN1. Ngoài ra lipoprotein tỷ trọng thấp cũng được xem là một dạng đầu tiếp nhận quan trọng và được xác nhận giá trị do nghiên cứu với sự hiện diện của thành phần huyết thanh người.
Đặc biệt là lipoprotein tỉ trọng cao kết hợp làm cho SR-B1tawng độ hướng dẫn,và xâm nhập HCV vào tế bào gan và còn bảo vệ chống kháng thể trung hòa của cơ thể. Bước 2 HCV giải phóng sợi ARN(+) tác dụng như một ARNm và có 2 vùng NCR 3’ và 5’. 5’vùng không mã hóa là vùng bảo tồn cao trong các chủng HCV được phân lập và có chứa IRES, IRES gắn trực tiếp vào tiểu phần 40s của ribosom dưới đơn vị độc lập với yếu tố tiền khởi động cần thiết cho quá trình dịch mã. Bước 3: Sự xâm nhập ergoplasme và đa protein tự cắt đoạn để sinh ra 3 protein cấu trúc C, E1, E2 và 7 protein không cấu trúc NS, đặc biệt tạo ra sợi ARN (-) làm 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngô Thị Quỳnh Trang Luận văn thạc sĩ khoa học khuôn để HCV sinh trưởng tạo lại ARN (+), tại một thời điểm nào đó genome HCV thay chức phận trở thành phức hợp sinh trưởng liên quan tới màng Bước 4: Là bước đóng gói và bài xuất ra ngoài.
Sau khi tổng hợp được thành phần của mình HCV đóng gói và được bài xuất ra khỏi tế bào gan. Tuy nhiên cơ chế đóng gói và bài cuất của HCV hiện nay chưa được nghiên cứu rõ rang Hình 1. Chu trình nhân lên của HCV 1. Dấu ấn miễn dịch của HBV và HCV: 1.
Dấu ấn miễn dịch của HBV: Kháng nguyên bề mặt của VRVGB ( HBsAg) HBsAg là dấu ấn đầu tiên của VRVGB xuất hiện trong huyết thanh của bệnh nhân, khoảng 2-12 tuần sau khi nhiễm vi-rút và khoảng 2-6 tuần trước khi có triệu chứng lâm sàng. Sự hiện diện của HBsAg là bằng chứng giá trị nhất đang nhiễm VRVGB dù có hay không có triệu chứng lâm sàng.Trong viêm gan vi-rút B cấp HBsAg đạt đến nồng độ cao nhất tương ứng với thời kỳ vàng da rõ trên lâm sàng rồi sau đó giảm dần. Có khoảng 5-10% trường hợp HBsAg biến mất rất sớm trước khi có triệu chứng lâm sàng. HBsAg có thể dương tính kéo dài từ 1-3 tháng và trở về âm tính sau khi transaminase đã trở về bình thường.
Nhiễm VRVGB mạn tính được xác định khi HBsAg tồn tại trên 6 tháng sau giai đoạn khởi phát của VGVRB cấp. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngô Thị Quỳnh Trang Luận văn thạc sĩ khoa học Thăm dò bằng kỹ thuật ELISA hay RIA có thể phát hiện được HBsAg ở nồng độ 0,1-0,5 ng/ml. Kháng thể kháng HBs (Anti-HBs) Anti-HBs là kháng thể duy nhất có khả năng trung hoà. Đây là dấu ấn huyết thanh phản ánh tình trạng VG B đã khỏi bệnh và (hay) được miễn nhiễm đối với VRVGB.
Anti-HBs tồn tại trong huyết thanh một thời gian dài. Trong phần lớn các trường hợp, Anti-HBs bắt đầu xuất hiện khi HBsAg đã biến mất. Thời điểm xuất hiện Anti-HBs rất thay đổi, từ 1-10 tuần, có khi đến 6 tháng sau khi HBsAg biến mất. Phần lớn bệnh nhân sẽ có miễn dịch bảo vệ lâu dài đối với VRVGB khi có Anti-HBs.