phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung của luận án gồm có phần tổng quan, 3 chương, 9 tiết. 11 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TUYÊN TRUYỀN HÌNH ẢNH VIỆT NAM RA THẾ GIỚI QUA BÁO CHÍ ĐỐI NGOẠI 1. Những công trình nghiên cứu về tuyên truyền, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền hình ảnh quốc gia Tuyên truyền, tuyên truyền đối ngoại, hình ảnh quốc gia và báo chí đối ngoại đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu ở các mức độ, cách tiếp cận khác nhau. Trên cơ sở tổng quan những công trình liên quan đến tuyên truyền hình ảnh Việt Nam ra thế giới qua báo chí đối ngoại, có thể khái quát thành các vấn đề cơ bản như sau: 1.
Những công trình nghiên cứu về tuyên truyền và tuyên truyền đối ngoại Trên thế giới, vấn đề tuyên truyền và tuyên truyền đối ngoại đã được nghiên cứu khá nhiều, tiêu biểu là công trình của Everette E. Dennis và John C. Trong công trình này, tác giả bàn đến khái niệm về tuyên truyền trong đó nhấn mạnh đến bản chất của tuyên truyền là một quá trình truyền thông có những kĩ thuật, thủ thuật nhất định; mục đích của tuyên truyền là làm cho đối tượng làm, đi hoặc ủng hộ niềm tin và ý tưởng của mình [9, tr.Nelson (1996), A Chronology and Glossary of Propaganda in the United States, Greenwood (Niên biểu và Chú giải thuật ngữ về tuyên truyền ở Mỹ) cũng đưa ra định nghĩa về tuyên truyền, trong đó ông cho rằng, đối tượng tuyên truyền là một nhóm công chúng mục tiêu xác định, nội dung của mục đích là tư tưởng, chính trị hay thương mại; phương tiện là các kênh truyền thông đại chúng và truyền thông trực tiếp [87, tr. 12 Chương 11 với tiêu đề Global Communication and Propaganda (Truyền thông và Tuyên truyền toàn cầu), trong cuốn Global Communication, Belmont Thomson Wadsworth (2007), tác giả Richard C Vincent nhấn mạnh đến các yếu tố kỹ thuật của tuyên truyền, nhất là kỹ thuật thuyết phục [96, tr.
Ông cũng cho rằng, quảng cáo về bản chất cũng được coi là hoạt động tuyên truyền. Đồng thời lần theo nguồn gốc của thuật ngữ tuyên truyền, tác giả cũng cho thấy rõ các ngành ngoại giao công chúng, quan hệ công chúng có nguồn gốc từ tuyên truyền và về bản chất đều dùng các kỹ thuật của tuyên truyền là thuyết phục gây ảnh hưởng đối với đối tượng [96, tr. Về tuyên truyên đối ngoại, tác giả cho rằng, tất cả các quốc gia đều sử dụng chiến dịch tuyên truyền ở cả cấp độ trong nước và nước ngoài. Tuyên truyền trong phạm vi truyền thông quốc tế được sử dụng theo ba cách, trong đó, mục tiêu tạo ảnh hưởng ra quốc tế, thay đổi, nâng cao nhận thức, danh tiếng của quốc gia là phù hợp nhất với tuyên truyền đối ngoại.
Hai mục tiêu còn lại phù hợp với việc sử dụng truyền thông quốc tế trong mục tiêu đối nội [96]. Cuốn sách của G.O’Donnell (2012), Propaganda and Persuasion (Tuyên truyền và Thuyết phục) khi giải nghĩa thuật ngữ tuyên truyền đã nhấn mạnh đến tính mục đích của tuyên truyền là nhằm hình thành nhận thức, tác động đến hiểu biết và hướng dẫn hành vi để đạt được phản hồi theo mong muốn của người tuyên truyền [86, tr. Bài nghiên cứu của John Martin (1971), Effectiveness of International Propaganda (Hiệu quả của tuyên truyền quốc tế) đưa ra định nghĩa về tuyên truyền và tuyên truyền quốc tế và nêu rõ các hình thức, chủ thể, đối tượng, mục đích của tuyên truyền quốc tế. Bài viết phân tích sâu về bản chất của tuyên truyền, cho rằng đó là hoạt động truyền thông; tính chất của tuyên truyền là thuyết phục.
Trong định nghĩa tuyên truyền quốc tế (khi đề cập đến tuyên truyền trong phạm vi quốc tế của bài nghiên cứu), các tác giả nêu rõ chủ thể của tuyên truyền quốc tế là Chính phủ, cơ quan tuyên truyền quốc tế; đối tượng là công 13 chúng nước ngoài, nêu các hình thức của truyền thông quốc tế là bản tin radio, thông cáo báo chí, sách, sách mỏng, và tạp chí định kỳ về thiên nhiên, nghệ thuật nói chung hoặc chuyên biệt, và các chương trình văn hóa, triển lãm, phim, hội thảo, lớp học ngôn ngữ, dịch vụ tra cứu, và các liên lạc cá nhân; và mục đích của các hình thức này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của quốc gia [90]. Ở Việt Nam, những vấn đề lý luận về tuyên truyền và tuyên truyền đối ngoại đã được công bố rộng rãi. Từ năm 2006, trong cuốn giáo trình Nguyên lý Tuyên truyền, tập thể tác giả Khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã nghiên cứu một cách hệ thống, bài bản, chuyên sâu về công tác tuyên truyền. Các tác giả đã đưa ra một số vấn đề lý luận chung về tuyên truyền, bao gồm định nghĩa, chức năng, nhiệm vụ và các giải pháp đổi mới tuyên truyền; tuyên truyền trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, đối ngoại, trong đó bao gồm: nội dung, phương thức, lực lượng, các giải pháp đổi mới.
Đó đều là những tri thức nền tảng giúp hình thành được các vấn đề lý luận của cấu trúc công tác tuyên truyền. Trong cuốn giáo trình này, dựa trên quan điểm Mác- Lênin, các tác giả đã sử dụng định nghĩa về tuyên truyền của Đại từ điển Bách khoa Liên Xô để triển khai các nội dung liên quan. Theo đó, tuyên truyền được hiểu theo hai nghĩa: rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng tuyên truyền là truyền bá quan điểm, tư tưởng về chính trị, về triết học, khoa học, nghệ thuật.
Theo nghĩa hẹp, đó là truyền bá những nội dung về chính trị, tư tưởng [32]. Về tuyên truyền đối ngoại, cuốn giáo trình Nguyên lý Tuyên truyền của Khoa Tuyên truyền Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2006) cũng đã đưa ra định nghĩa, nội dung, lực lượng, hình thức, đối tượng, phương tiện của tuyên truyền đối ngoại. Các tác giả cho rằng, tuyên truyền đối ngoại là một phương thức tổng hợp; có phạm vi là toàn thế giới; có mục đích là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quốc gia trong quá trình phát triển và thực hiện mục tiêu đối ngoại. Nội dung của tuyên truyền đối ngoại là tuyên truyền về đất nước, con 14 người, truyền thống lịch sử, và nền văn hóa Việt Nam ra nước ngoài; hệ thống thông tin đại chúng là lực lượng, phương tiện chủ lực thực hiện việc chuyển tải thông tin ra nước ngoài [32].
Hình thức, phương tiện của tuyên truyền đối ngoại là hệ thống thông tin đại chúng; báo chí đối ngoại xuất bản bằng các thứ tiếng; các hoạt động đối ngoại của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhất là khi thăm và đón tiếp nước ngoài ở Việt Nam; tổ chức các sự kiện quốc tế ở trong nước và nước ngoài; hoạt động thông tin qua tiếp xúc với người nước ngoài của quan chức Chính phủ, và của nhân dân các nước đó. Cuốn giáo trình cũng phân biệt sự giống và khác nhau giữa thuật ngữ “thông tin” và “tuyên truyền”, “tuyên truyền đối ngoại” và “thông tin đối ngoại”. Thông tin chủ yếu có ý nghĩa thông báo; còn tuyên truyền không chỉ nhằm thông báo mà còn có tính mục đích rõ ràng. Nhưng nếu thông tin được thực hiện bởi các chủ thể vốn đã có quan điểm, thái độ nhất định với các nội dung được thông tin, do đó cũng có tính định hướng.
Vì vậy, “thông tin đối ngoại” và “tuyên truyền đối ngoại” đều có cùng bản chất và do đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá của Đảng và Nhà nước [32]. Có thể nói, đây là công trình giúp ích thiết thực cho nghiên cứu tuyên truyền hình ảnh Việt Nam ra thế giới qua báo chí đối ngoại, nhất là cơ sở lý luận. Tác giả Lê Thanh Bình chủ biên cuốn Giáo trình đại cương Truyền thông quốc tế (2012), khi đề cập đến lý luận về truyền thông quốc tế, đã chỉ rõ đối tượng của truyền thông quốc tế trong tuyên truyền là “các quốc gia, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các tập đoàn kinh tế, chính trị, xã hội hoặc các nhóm lợi ích và cả những cá nhân có vai trò quan trọng đến việc ra quyết định hoặc hoạch định chính sách”; và “những công dân của nước sở tại và công dân của nước ngoài đang sinh sống, học tập ở nước sở tại đó” [9]. Các hình thức của tuyên truyền trong truyền thông đối ngoại bao gồm báo chí (với báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử…), truyền miệng, tờ rơi, bích trương, pano, áp phích, 15 các hình thức, tác phẩm văn học, nghệ thuật, điện ảnh, triễn lãm văn hóa thương mại, các chương trình trao đổi, giao lưu giữa các hiệp hội, các viện trợ nhân đạo, cấp học bổng và nhiều hình thức đa dạng khác [9].
Cuốn sách Đổi mới Thông tin đối ngoại trong thời kỳ hội nhập quốc tế ở Việt Nam của Nguyễn Hữu Cát (chủ biên) (2015) trình bày sự giống và khác nhau về đối tượng, nội dung, phương thức, lực lượng giữa thông tin đối ngoại và thông tin đối nội. Đối tượng của thông tin đối nội là quần chúng nhân dân trong nước, trong khi của thông tin đối ngoại đa dạng và phức tạp hơn. Mục tiêu của thông tin đối nội là “quán triệt và triển khai đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước”, trong khi đó mục tiêu của thông tin đối ngoại là “nhằm tranh thủ sự ủng hộ của thế giới để tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước”. Do đó mục tiêu, đối tượng khác nhau nên nội dung và phương thức cũng khác nhau.
Nội dung của thông tin đối ngoại có chọn lọc hơn cho phù hợp với nhiều đối tượng đa dạng và chú trọng đến nội dung giới thiệu quảng bá hình ảnh Việt Nam [11]. Qua đó, các đặc điểm này cũng góp phần giúp phân biệt thêm sự khác nhau giữa báo chí đối ngoại và báo chí đối nội. Đây là những tri thức hữu ích cho nghiên cứu về tuyên truyền và tuyên truyền đối ngoại. Công trình Lý thuyết truyền thông của tác giả Nguyễn Văn Dững (2011) cũng đã đề cập, so sánh khái niệm tuyên truyền với truyền thông, phân tích những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai thuật ngữ này.
Tác giả đã dẫn lời của V.Lênin khi cho rằng, tuyên truyền là đem chân lý đến cho người nghe [15]. Đây là một căn cứ quan trọng để phân tích, giải thích rõ tính hai chiều của tuyên truyền, phản bác lại quan điểm cho rằng, tuyên truyền mang tính áp đặt, một chiều.