Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VIÊN CHỨC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP VÀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm viên chức và đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm viên chức Ở Việt Nam, bên cạnh khái niệm viên chức còn có khái niệm cán bộ, công chức. Trong thực tế, thuật ngữ viên chức đôi khi dễ bị nhầm lẫn với các thuật ngữ cán bộ, công chức.
Việc phân biệt rõ ràng đối tượng nào là viên chức sẽ tạo cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý cho các quy định liên quan tới tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức. Về mặt lý thuyết, nhận thức phổ biến ở Việt Nam xem viên chức là những người làm công việc thuần tuý về chuyên môn như giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh, cung cấp thông tin. Viên chức không trực tiếp tham gia vào công tác quản lý nhà nước. Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là cung cấp những dịch vụ công thiết yếu, cung cấp cho người dân các sản phẩm "phi hiện vật", dựa trên "kỹ năng nghiệp vụ, mang tính nghề nghiệp cao" [53].
Với tính chất công việc như vậy, mọi hoạt động nghề nghiệp của viên chức đòi hỏi tính chuyên nghiệp, chính xác, như một chuyên gia [36]. Từ tiêu chí nêu trên, theo Tổng cục Thống kê, tính đến ngày 01/07/2017, cả nước có hơn 3,8 triệu cán bộ công chức, viên chức và người hưởng lương, mức tăng 11,3% so với năm 2012, trong đó số viên chức chiếm gần 2,5 triệu người đang làm việc tại 58.000 ĐVSNCL, chưa tính đến số lao động trong các doanh nghiệp nhà nước. Đây là lực lượng lao động đông đảo, góp phần vào việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội mà Nhà nước đề ra. Về mặt pháp lý, khái niệm viên chức được sử dụng trong các văn bản 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quy phạm pháp luật (VBQPPL) của Việt Nam ít nhiều thay đổi theo từng thời kỳ.
Hiến pháp 1992 sử dụng cụm từ "cán bộ, viên chức" để chỉ chung những người làm việc tại các cơ quan nhà nước, ĐVSNCL (Điều 8). Theo đó, viên chức là một khái niệm rất rộng, có khi dùng để chỉ một phạm vi rộng lớn những người làm việc trong cả bộ máy, tổ chức nhà nước [43]. Trong khi đó, theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức ban hành năm 1998, cụm từ được sử dụng chung cho người làm việc trong khối cơ quan nhà nước nước là "cán bộ, công chức" [44]. Chỉ khi Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung năm 2003 thì viên chức mới được tách riêng thành một nhóm, phân biệt với công chức.
Điểm d, Điều 1 Pháp lệnh này quy định, viên chức là "những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội". Theo quy định này, viên chức là một nhóm nhỏ thuộc một tập hợp lớn hơn là cán bộ, công chức. Cùng với sự bổ sung, hoàn thiện của pháp luật, khái niệm công chức và viên chức tiếp tục có sự điều chỉnh theo hướng rõ ràng, cụ thể hơn bằng hai đạo luật riêng là Luật Cán bộ, công chức 2008, và Luật Viên chức 2010. Luật Viên chức năm 2010 quy định: "Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại ĐVSNCL theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL theo quy định của pháp luật" [46].
Qua những phân tích ở trên, có thể thấy những đặc điểm cơ bản của viên chức như sau: - Thứ nhất, về quốc tịch: Là công dân Việt Nam. - Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Là người được tuyển dụng theo vị trí việc làm và được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị (do ngân sách nhà nước cấp hoặc từ nguồn thu của đơn vị). - Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại ĐVSNCL. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được tính kể từ khi được tuyển dụng.
Hợp đồng làm việc được ký kết giữa viên chức và ĐVSNCL có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động. - Thứ năm, về chế độ lao động: Viên chức làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của ĐVSNCL theo quy định của pháp luật. Điều đó có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc dựa trên cơ sở pháp lí để giải quyết những vấn đề liên quan đến việc vi phạm quyền, nghĩa vụ hay các vấn đề phát sinh giữa các bên. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Trước khi có Luật Viên chức (2010), Nhà nước đã ban hành nhiều VBQPPL có liên quan đến ĐVSNCL nhưng không đưa ra khái niệm thực sự rõ ràng về các đơn vị này.
Luật Viên chức 2010 quy định: “ĐVSNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” [46, Điều 9, Khoản 1]. Tuy nhiên, cần thấy rằng hiện nay hoạt động cung cấp các dịch vụ công thiết yếu cho người dân và xã hội không còn được xem là công việc độc quyền của các ĐVSNCL mà có sự bình đẳng về quyền giữa các đơn vị trong và ngoài công lập. Trong thực tế ở nước ta thời gian qua, một số dịch vụ công đã được trao cho khối tư nhân như dịch vụ công chứng, tư vấn thuế, đấu giá. Điểm khác biệt giữa ĐVSNCL và các đơn vị khác là đơn vị công lập được thành lập bởi những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoặc bởi các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Về mặt pháp lý, hầu hết các ĐVSNCL chỉ thực hiện cung cấp một loại hình dịch vụ công theo chức năng, nhiệm vụ đã được quy định cụ thể trong 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các văn bản quy phạm pháp luật và theo quyết định thành lập đơn vị đó. Ngoài nhiệm vụ chính đã được quy định, nhiều ĐVSNCL có thể thực hiện cung cấp một số loại hình dịch vụ khác trong phạm vi, chức năng của mình nhưng chủ yếu vẫn tập trung vào một lĩnh vực chính được giao. Ví dụ: Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, bên cạnh hoạt động nghiên cứu cũng có thể đảm nhiệm việc đào tạo một số trình độ, chuyển giao công nghệ bảo quản nông sản cho các doanh nghiệp. Hay Trường Đại học kỹ thuật y tế Hải Dương được thành lập với hoạt động chủ yếu là đào tạo nhân lực y tế, nhưng bên cạnh đó cũng thực hiện việc nghiên cứu khoa học và khám chữa bệnh.
Những dịch vụ công mà các đơn vị này cung cấp có đặc điểm là không thu tiền hoặc có thu tiền nhưng không đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết. Đây là điểm khác biệt lớn nhất trong hoạt động giữa ĐVSNCL so với đơn vị sự nghiệp ngoài công lập thuộc các thành phần kinh tế khác. Theo pháp luật hiện hành, các ĐVSNCL có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. Luật Viên chức 2010 chia các ĐVSNCL thành 2 loại: (i) ĐVSNCL được giao quyền tự chủ hoàn toàn và (ii) ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn.
Dù vậy, hiện nay vẫn còn không ít hạn chế, tồn tại trong việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho ĐVSNCL, đồng thời đây cũng là vấn đề còn nhiều tranh luận. Tại dự Hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 6, khóa XII, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết: Tính đến tháng 11 năm 2017 cả nước có 57.995 ĐVSNCL với tổng biên chế khoảng 2,45 triệu viên chức, trong đó ngành y tế và giáo dục chiếm gần 70% biên chế. Đây là lực lượng giữ vai trò chủ đạo, cung cấp hầu hết dịch vụ sự nghiệp công, liên quan đến mọi 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người, mọi nhà và toàn xã hội, như dịch vụ y tế, giáo dục - đào tạo, khoa học-công nghệ, văn hóa, thể dục-thể thao. Chi lương cho các ĐVSNCL chiếm tới gần 40% tổng quỹ lương của Ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, chỉ có 123 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, 2.758 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên, 12.968 đơn vị bảo đảm một phần chi thường xuyên, 42.146 đơn vị do Ngân sách nhà nước bảo đảm hoàn toàn hoạt động [35]. Tại báo cáo của Sở Tài chính tỉnh Hải Dương về việc cung cấp số liệu các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tỉnh hưởng lương từ ngân sách sau khi sáp nhập gửi Bộ Tài chính, tính đến tháng 01 năm 2019, toàn tỉnh có 1.070 ĐVSNCL, trong đó số lượng đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư là 5 đơn vị, có 40 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên, 369 đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, 656 đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên. Tuyển dụng viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm tuyển dụng viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập Theo nhận thức phổ biến, tuyển dụng là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những người có đủ năng lực đáp ứng một công việc trong một tổ chức, công ty, hoặc một chương trình tự nguyện hay nhóm cộng đồng.
Ở khía cạnh khác có thể hiểu tuyển dụng là việc lựa chọn người để làm một hay nhiều công việc nào đó. Với ý nghĩa như vậy, bất kỳ một cơ quan, đơn vị nào có nhu cầu sử dụng nhân lực thì đều phải tiến hành hoạt động tuyển dụng. Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh nhiều mặt giữa các đơn vị, đặc biệt tại các doanh nghiệp, việc tuyển dụng nhân lực được xem như một chiến lược, một nghệ thuật khoa học để thu hút nhân tài [34]. Thông thường tuyển dụng phải theo nguyên tắc cạnh tranh giữa các thí sinh thông qua hình thức thi có đánh giá kết quả và chọn lọc, như vậy mới 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đúng nghĩa là "thi tuyển".
Trong phần lớn các lĩnh vực, số lượng việc làm được tạo ra thường ít hơn số lao động tìm việc.