CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm về nhân lực 1.1 Khái niệm nhân lực Trong hoạt động sản xuất ra của cải vật chất của loài người, năng lực lao động của con người có tác dụng chi phối chủ yếu, là nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Sự phân công lao động xã hội càng sâu sắc, xã hội hóa nền sản xuất càng cao thì tính chất xã hội hóa của sức lao động của mỗi con người càng nhiều hơn. Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội cần phải phát huy đầy đủ nguồn tài nguyên nhân lực, phát huy tính chủ động sáng tạo của người lao động.
Nhân lực theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người. Nhân lực theo nghĩa hẹp được hiểu như sau: Nhân lực xã hội là dân số trong độ tuổi có khả năng lao động. Nhân lực trong doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp. (Lê Văn Tám, 2008) Nhân lực là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về nhân lực.
Trên phạm vi quốc gia nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động. Nhân lực của quốc gia phụ thuộc vào việc quy định của Nhà nước về độ tuổi lao động và khả năng tham gia lao động của từng cá nhân cụ thể (Vũ Thuỳ Dương, 2008) Thống nhất với các quan điểm trên, nhân lực là năng lực mà các cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân Cũng như tất cả các tiềm năng của cá nhân một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hoặc một xã hội. Nói cách khác, nhân lực là tổng hợp các cá nhân cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội. Từ định nghĩa chung này có thể xem xét thuật ngữ nhân lực dưới một số khía cạnh.
Nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động. Nhân lực là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo của doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Vậy nhân lực là lực lượng người lao động với kỹ năng nhất định để làm công việc nào đó mà xã hội hay thị trường có nhu cầu.2 Khái niệm nguồn nhân lực Theo Liên Hợp quốc “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước.” Nguồn nhân lực của một tổ chức/ doanh nghiệp là tập hợp tất cả các cá nhân tham gia vào bất kỳ hoạt động nào nhằm đạt được các mục tiêu, mục đích của doanh nghiệp, tổ chức đó đặt ra.
Bất kỳ doanh nghiệp/ tổ chức nào cũng được hình thành dựa trên các thành viên (Nguyễn Vân Điềm, 2007) Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với nguồn lực khác của doanh nghiệp do bản chất của con người. Nhân viên có các năng lực, “Đặc điểm khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với những hoạt động của cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động môi trường xung quanh.
Do đó, quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh” (Vũ Thuỳ Dương, 2008) Nguồn nhân lực là nguồn lực của con người. Nguồn nhân lực được xem xét ở hai khía cạnh: Thứ nhất: Ý nghĩa là nguồn và nơi tạo ra nguồn. Nguồn nhân lực nằm ở chính con người (sự khác nhau giữa nguồn nhân lực so với các nguồn khác) 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai: Nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nhân lực của từng cá nhân, từng con người trong một tổ chức. Với tư cách là nguồn nhân lực trong quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có thể tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện về số lượng và chất lượng nhất định tại một khoảng thời gian nhất định trong xã hội.2 Tuyển dụng nhân lực 1.1 Khái niệm tuyển dụng nhân lực Tuyển dụng nhân lực là một trong những công tác của quá trình quản trị nhân lực, nó không chỉ ảnh hưởng đến các nội dung khác trong quản trị nhân sự như đào tạo phát triển, bố trí sử dụng, đãi ngộ nhân lực mà nó còn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra một nguồn nhân lực có chất lượng cao, có đủ khả năng đáp ứng được yêu cầu của công việc.
Hiện nay, đối với khái niệm về tuyển dụng nhân lực có khá nhiều các cách tiếp cận khác nhau trong đó cách tiếp cận của (Vũ Thuỳ Dương, 2008): “Tuyển dụng nhân lực là một quá trình tìm kiếm và lựa chọn nhân sự để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp” là một trong những khái niệm được sử dụng rộng rãi. Để tuyển dụng thành công đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư kinh phí, thời gian và công sức, đồng thời phải xây dựng quy trình tuyển dụng khoa học và hiệu quả. Quy trình này bao gồm hai khâu cơ bản đó là tìm kiếm và lựa chọn nhân lực.2 Mục tiêu của tuyển dụng nhân lực - Tuyển dụng nhân viên là yếu tố chủ yếu của chính sách quản lý nguồn nhân lực, bởi vì nó ảnh hưởng quyết định đến tình trạng nhân lực của doanh nghiệp. - Qua tuyển dụng nhân viên mới, một mặt lực lượng lao động của nó được trẻ hoá, và mặt khác, trình độ trung bình của nó được nâng lên.
Vì vậy người ta có thể nói rằng: tuyển dụng nhân viên là một sự đầu tư “phi vật chất- đầu tư về con người”; - Một chính sách tuyển dụng nhân viên đúng đắn, được chuẩn bị chu đáo, tiến hành nghiêm túc có tiêu chuẩn xác đáng theo một quy trình khoa học sẽ bảo đảm cho 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh nghiệp chọn được những người tài giỏi và chắc chắn sẽ góp phần mang lại những thành công cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu tiến hành tuỳ tiện, thiếu nghiêm túc, không có tiêu chuẩn. chẳng những không mang lại lợi ích gì, mà đôi khi còn là trung tâm gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ, xáo trộn đơn vị và thậm chí đến mức phải sa thải người này và để rồi lại phải tuyển người mới. Điều đó đã không mang lại thành công cho doanh nghiệp, mà còn gây lãng phí rất nhiều lần cho doanh nghiệp.3 Ý nghĩa công tác tuyển dụng nhân lực Công tác tuyển dụng nhân lực của doanh nghiệp có ý nghĩa cực kì to lớn đối với doanh nghiệp, có thể quyết định sự thành, bại của một doanh nghiệp.
Tuyển dụng nhân lực có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp và người lao động. Đối với doanh nghiệp, tuyển dụng cung cấp cho doanh nghiệp một đội ngũ lao động lành nghề, năng động, sáng tạo, bổ sung nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp. Tuyển dụng nhân lực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó là khâu đầu tiên trong quản trị nhân lực. Chỉ khi làm tốt công tác tuyển dụng tức là tìm ra người phù hợp với công việc, có đủ năng lực và phẩm chất để hoàn thành công việc được giao.
Từ đó, giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh và phát triển đội ngũ. Chất lượng của nguồn nhân lực tạo ra năng lực cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp. Đối với người lao động, tuyển dụng giúp người lao động tìm được công việc phù hợp với năng lực chuyên môn, tạo ra nguồn thu nhập, phát triển chuyên môn và các kĩ năng cần thiết khác. Đối với xã hội, tuyển dụng giúp giải quyết vấn đề việc làm, thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội, giảm bớt các gánh nặng của xã hội như thất nghiệp và các tệ nạn xã hội khác.
Làm tốt công tác tuyển dụng nhân lực giúp cho việc sửu dụng nguồn nhân lực của xã hội một cách hữu ích nhất. (Dung, 2008) 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Nội dung của tuyển dụng nhân lực trong doanh nghiệp 1.1 Cơ sở của tuyển dụng nhân lực Quá trình tuyển dụng nhân lực là quá trình thu hút và đánh giá ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau dựa vào yêu cầu của công việc, để tìm được người phù hợp với các yêu cầu của công việc đặt ra. Quá trình tuyển dụng nhân lực phải đáp ứng được các nguyên tắc sau: - Tuyển dụng cán bộ, nhân viên phải xuất phát từ lợi ích chung của doanh nghiệp và xã hội. - Tuyển dụng phải xuất phát từ kế hoạch kinh doanh và kế hoạch nguồn nhân lực.
- Phải dựa vào khối lượng công việc và yêu cầu cụ thể của từng loại công việc để tính tới khả năng sử dụng tối đa năng lực của họ. - Khi tuyển chọn phải nghiên cứu thận trọng và toàn diện cá nhân, phẩm chất và năng lực cá nhân nhân viên.2 Quy trình tuyển dụng 1.1 Xác định nhu cầu và lập kế hoạch tuyển dụng * Xác định nhu cầu tuyển dụng: xác định nhu cầu mà doanh nghiệp cần tuyển cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu, và thời điểm nhằm đáp ứng yêu cầu công việc đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được diễn ra một cách tốt nhất.