Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Cơ sở lý luận về Du lịch sinh thái Ngày nay, toàn thế giới có xu hướng coi du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng như là nguồn tài nguyên quý giá. DLST đã và đang trên đà trở mình và ngày càng trở nên phổ biến đối với những người yêu thiên nhiên, nó xuất phát từ các trăn trở về môi trường, kinh tế và xã hội – một trong những cách thức để trả nợ cho môi trường tự nhiên và làm tăng giá trị của các khu bảo tồn thiên nhiên còn lại. DLST được coi là một trong những xu hướng phát triển của ngành du lịch thế giới và đây được coi là phương thức phát triển du lịch bền vững vì có sự gắn kết chặt chẽ các yếu tố cảnh quan thiên nhiên – văn hóa dân tộc – văn hóa lịch sử. Trên thế giới, DLST được hiểu là “Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương” (ITES).
“Du lịch sinh thái” (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau. Đây là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau. DLST bắt nguồn từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời. Có người cho rằng DLST là sự kết hợp ý nghĩa của hai khái niệm “du lịch” và “sinh thái”.
Khái niệm du lịch sinh thái đã được thể hiện bằng sơ đồ như sau: Hình 1: Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái (Nguồn: Phạm Trung Lương và cộng sự, 2002) Qua sơ đồ có thể thấy, định nghĩa về DLST được xây dựng lên bằng mối liên kết chặt chẽ giữa các vấn đề: Du lịch, du lịch thiên nhiên, du lịch có giáo dục môi trường, du lịch được quản lý bền vững, du lịch hỗ trợ bảo tồn và phát triển cộng đồng. Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST lần đầu tiên được Hector Ceballos-Lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”. Cùng thời gian đó, định nghĩa về DLST được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đưa ra, điển hình là: Định nghĩa về DLST của Wood năm 1991: “Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và làm thức dậy ở du khách tình yêu và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ ciệc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tàu chính cho người dân địa phương” (Phạm Trung Lương và cộng sự).
Năm 1993, Lindberg và Hawkins đã đưa ra một định nghĩa phản ánh khá đầy đủ nội dung và chức năng của DLST: “DLST là du lịch có trách nhiệm với các khi thiên nhiên, là công cụ để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” Tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN) cũng đưa ra định nghĩa đầy đủ hơn: “DLST là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực di khách tham quan gây ra, và tạo ra lợi ích cho người dân địa phương tham gia tích cực” (Ceballos-Lascurain, 1996). Định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế: “Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”. Ngoài ra còn có rất nhiều định nghĩa tổng quát khác nhau về DLST. Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
Kết quả của Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lực phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam” (1999) đã đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có sự đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Trong Luật du lịch 2017, Du lịch sinh thái được định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường”. Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có những đặc tính cơ bản: DLST có thể còn được hiểu dưới những tên gọi khác nhau như: ⁻ Du lịch thiên nhiên, du lịch khám phá, du lịch thể thao, du lịch leo núi,… Thế nhưng, dù được hiểu theo tên gọi nào thì DLST vẫn mang những đặc tính cơ bản sau: ⁻ Phát triển dựa vào những giá trị (hấp dẫn) của thiên nhiên và văn hóa bản địa; ⁻ Được quản lý bền vững về môi trường sinh thái; ⁻ Có giáo dục và diễn giải về môi trường; ⁻ Có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng. Nguyên tắc của việc phát triển DLST Theo Lê Huy Bá (2002), những nguyên tắc cơ bản của việc phát triển du lịch sinh thái bao gồm: ⁻ Có hoạt động giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào nỗ lực bảo tồn; ⁻ Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái; ⁻ Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng; ⁻ Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương.
Xu hướng du lịch sinh thái trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Du lịch nói chung và DLST nói riêng đã và đang phát triển nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu. DLST như một hiện tượng và một xu thế ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người, bởi đó là loại hình du lịch thiên nhiên có trách nhiệm, bổ trợ cho các mục tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng, đồng thời đem lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, góp phần tích cực vào sự phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Theo báo cáo của tổ chức Du lịch thế giới năm 2019, số lượng khách du lịch quốc tế toàn cầu năm 2018 đã vượt lên mốc 1,4 tỷ khách, tăng 74 triệu lượt so với năm 2017, hoạt động du lịch thế giới tăng trưởng khoảng 3 – 4% trong năm 2019.
Trong báo cáo cũng dự báo, đến năm 2030 lượng khách du lịch quốc tế trên toàn cầu đạt 1,8 tỷ lượt khách. Khách đi du lịch với mục đích tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí chiếm 54%; với mục đích công việc và nghề nghiệp chiếm 15%. Trong đó, Đông Nam Á sẽ trở thành khu vực thu hút khách quốc tế lớn thứ tư thế giới (UNWTO, 2019). Báo cáo cũng nhận định với lượng khách du lịch tăng nhanh, xu hướng các loại hình du lịch đã và đang thay đổi đáng kể.
Sự lựa chọn của khách du lịch trên toàn cầu cho thấy những loại hình du lịch thân thiện với môi trường như du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nghỉ dưỡng và du lịch phục vụ nhu cầu sức khỏe, làm đẹp,… ngày càng được lựa chọn và ưa chuộng hơn. Dự kiến lượt khách trong những điểm đến mới nổi sẽ tăng với tốc độ gấp đôi so với các nền kinh tế tiên tiến (2,2 %/năm); thị phần của các nền kinh tế mới nổi đến năm 2030 đạt 57%, tương đương với hơn một tỷ lượt khách du lịch quốc tế trong cùng thời gian (Huy Lê, 2019). Trên thực tế, ngành du lịch thế giới đang chứng kiến sự phát triển của nhiều xu hướng du lịch khác như: Các chương trình tự thiết kế, du lịch mạo hiểm, du lịch trải nghiệm, du lịch giải trí với các thiết bị hiện đại,… Xu hướng khách du lịch quan tâm nhiều hơn tới chất lượng trải nghiệm tại điểm đến thay vì hình ảnh điểm đến đơn thuần, du khách sẽ lưu lại nhiều ngày hơn nếu điểm đến có nhiều trải nghiệm thú vị và ngược lại. Nếu trước đây, du lịch biển theo trào lưu là phổ biến thì những năm gần đây đã chuyển hướng sang du lịch trải nghiệm văn hóa địa phương.
Khách du lịch theo xu hướng tìm về những giá trị văn hóa đặc sắc và sinh thái nguyên sơ cũng đang trở nên thịnh hành trong đời sống xã hội hiện nay. UNWTO (2019) cũng dự báo rằng nhu cầu du lịch bùng nổ và sẽ tăng trưởng 4%/năm trong giai đoạn 2018 – 2028, tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Châu Á – Thái Bình Dương được dự báo là khu vực tăng trưởng mạnh mẽ và đón được 535 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2030, vượt qua châu Âu để chiếm lĩnh vị trí đứng đầu thế giới. Trong đó, nhu cầu và thị hiếu của khách du lịch tập trung vào DLST.
Phần lớn các điẻm đến ở Đông Nam Á duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh đặc biệt là Việt Nam thu hút ngày càng nhiều du khách quốc tế do điều kiện thiên phú về địa hình, cảnh quan, khí hậu. Ở Việt Nam Điều kiện khí hậu thuận lợi tạo nên sự phong phú về địa hình và cảnh quan, đa dạng và độc đáo về tài nguyên mà ngành du lịch Việt Nam tăng trưởng và phát triển nhanh chóng trở thành ngành kinh tế quan trọng cũng như là con đường hiệu quả nhất tăng nguồn thu ngoại tệ và thu nhập cho đất nước. Năm 2018, Việt Nam đón nhận gần 15,6 triệu lượt khách quốc tế, 80 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ khách du lịch đạt hơn 620. Bảy tháng đầu năm 2019 đã có trên 9,8 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2018.
Ngành DLST là một ngành thu hút chủ yếu du khách quốc tế. Các điểm du lịch sinh thái hấp hẫn của Việt Nam là các khu rừng đặc dụng (bao gồm các vườn quốc gia (VQG), khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn (KBT) thiên nhiên,…) các vùng núi với địa hình phong cảnh đẹp và nền văn hóa bản sắc.