Tư tưởng về dân trong Nho giáo Tiên Tần và ảnh hưởng đến tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến XV

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh tư tưởng về dân trong nho giáo tiên tần và ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng việt nam từ thế, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

93
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Tình hình nghiên cứu đề tài

Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đóng góp của luận văn

Kết cấu của luận văn

1. MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TƯ TƯỞNG CỦA NHO GIÁO TIÊN TẦN VỀ DÂN

1.1. Khái lược về một số tác phẩm của Nho giáo tiên Tần

1.2. Phạm trù dân trong Nho giáo tiên Tần

1.3. Quan niệm của Nho giáo tiên Tần về vai trò của dân

1.4. Quan niệm của Nho giáo tiên Tần về thái độ và trách nhiệm của nhà vua, người cầm quyền với dân

1.5. Những giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân

2. ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG VỀ DÂN TRONG NHO GIÁO TIÊN TẦN ĐỐI VỚI TƯ TƯỞNG VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THẾ KỶ XV

2.1. Nho giáo trong bối cảnh xã hội Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV

2.2. Ảnh hưởng của tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần đối với tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV dưới thời Lý-Trần

2.3. Ảnh hưởng của tư tưởng về dân trong Nho giáo tiên Tần đối với tư tưởng Việt Nam thế kỷ XV dưới thời Lê sơ

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tư tưởng về dân trong Nho giáo Tiên Tần

Tư tưởng về dân trong Nho giáo Tiên Tần là một trong những nội dung cốt lõi của học thuyết này. Nho giáo, với những đại diện tiêu biểu như Khổng Tử và Mạnh Tử, đã đặt ra những quan niệm sâu sắc về vai trò của dân trong xã hội. Tư tưởng này không chỉ ảnh hưởng đến chính trị mà còn định hình văn hóa và đạo đức của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nho giáo Tiên Tần nhấn mạnh rằng dân là gốc rễ của xã hội, và sự ổn định của triều đại phụ thuộc vào sự hài lòng của nhân dân.

1.1. Khái lược về Nho giáo Tiên Tần và tư tưởng về dân

Nho giáo Tiên Tần, với các tác phẩm như Luận ngữ và Mạnh Tử, đã đề cập đến vai trò của dân trong việc xây dựng xã hội. Khổng Tử cho rằng, một nhà lãnh đạo tốt phải biết lắng nghe ý kiến của dân và chăm lo cho đời sống của họ. Mạnh Tử cũng nhấn mạnh rằng dân là nguồn gốc của quyền lực và sự chính đáng của nhà vua.

1.2. Các tác phẩm tiêu biểu của Nho giáo Tiên Tần

Các tác phẩm như Luận ngữ và Mạnh Tử không chỉ là những tài liệu học thuật mà còn là những hướng dẫn thực tiễn cho các nhà lãnh đạo. Luận ngữ ghi lại những lời dạy của Khổng Tử về đạo đức và chính trị, trong khi Mạnh Tử mở rộng và phát triển những quan điểm này, nhấn mạnh tầm quan trọng của dân trong việc duy trì trật tự xã hội.

II. Vấn đề và thách thức trong tư tưởng về dân của Nho giáo

Mặc dù tư tưởng về dân trong Nho giáo Tiên Tần có nhiều giá trị, nhưng cũng tồn tại những thách thức và hạn chế. Một trong những vấn đề lớn là sự phân chia giai cấp trong xã hội, nơi mà quyền lực thường tập trung vào tay một số ít. Điều này dẫn đến sự bất bình đẳng và thiếu công bằng trong việc thực hiện các quyền lợi của dân.

2.1. Sự phân chia giai cấp và ảnh hưởng đến dân

Trong xã hội phong kiến, tư tưởng Nho giáo thường bị lợi dụng để biện minh cho sự phân chia giai cấp. Những người cầm quyền có thể dễ dàng lạm dụng quyền lực của mình, trong khi dân chúng lại bị áp bức và thiếu quyền lợi. Điều này tạo ra một mâu thuẫn lớn trong tư tưởng về dân của Nho giáo.

2.2. Hạn chế trong việc thực hiện quyền lợi của dân

Mặc dù Nho giáo nhấn mạnh vai trò của dân, nhưng thực tế cho thấy quyền lợi của họ thường bị xem nhẹ. Các nhà lãnh đạo có thể không thực sự lắng nghe ý kiến của dân, dẫn đến sự bất mãn và kháng cự trong xã hội. Điều này đặt ra câu hỏi về tính hiệu quả của tư tưởng Nho giáo trong việc xây dựng một xã hội công bằng.

III. Phương pháp và giải pháp trong tư tưởng Nho giáo về dân

Để giải quyết những thách thức trong tư tưởng về dân, Nho giáo Tiên Tần đã đề xuất một số phương pháp và giải pháp. Những phương pháp này không chỉ giúp cải thiện đời sống của dân mà còn củng cố quyền lực của nhà cầm quyền thông qua sự đồng thuận và hợp tác.

3.1. Đề cao giáo dục và đạo đức trong xã hội

Nho giáo nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục trong việc nâng cao nhận thức của dân. Việc giáo dục không chỉ giúp dân hiểu rõ quyền lợi của mình mà còn tạo ra một xã hội văn minh, nơi mà mọi người đều có trách nhiệm với cộng đồng.

3.2. Khuyến khích sự tham gia của dân vào chính trị

Một trong những giải pháp quan trọng là khuyến khích dân tham gia vào các quyết định chính trị. Điều này không chỉ giúp nhà cầm quyền hiểu rõ hơn về nguyện vọng của dân mà còn tạo ra một môi trường chính trị minh bạch và công bằng.

IV. Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đến tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến XV

Tư tưởng về dân trong Nho giáo Tiên Tần đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến XV. Trong bối cảnh xã hội phong kiến Việt Nam, các nhà tư tưởng như Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Trãi đã tiếp thu và phát triển những quan điểm này, tạo ra một hệ thống tư tưởng phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

4.1. Tư tưởng về dân trong thời kỳ Lý Trần

Thời kỳ Lý-Trần, tư tưởng về dân được thể hiện rõ nét qua các chính sách của nhà nước. Các nhà lãnh đạo đã chú trọng đến việc chăm lo đời sống của dân, từ đó tạo ra sự ổn định và phát triển cho đất nước. Tư tưởng 'lấy dân làm gốc' đã trở thành kim chỉ nam cho các chính sách cai trị.

4.2. Ảnh hưởng của Nho giáo đến tư tưởng thời Lê sơ

Trong thời kỳ Lê sơ, tư tưởng Nho giáo tiếp tục phát triển và ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong xã hội. Các nhà tư tưởng như Lê Thánh Tông đã áp dụng những nguyên lý của Nho giáo vào việc quản lý nhà nước, nhấn mạnh vai trò của dân trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước.

V. Kết luận và tương lai của tư tưởng về dân trong Nho giáo

Tư tưởng về dân trong Nho giáo Tiên Tần không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh hiện đại. Việc nghiên cứu và phát triển những giá trị tích cực từ tư tưởng này sẽ giúp xây dựng một xã hội công bằng và văn minh hơn.

5.1. Giá trị lịch sử của tư tưởng về dân

Tư tưởng về dân trong Nho giáo đã để lại những giá trị lịch sử quan trọng, giúp định hình tư tưởng chính trị và xã hội của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Những giá trị này cần được bảo tồn và phát huy trong bối cảnh hiện đại.

5.2. Hướng phát triển tư tưởng về dân trong tương lai

Trong tương lai, việc phát triển tư tưởng về dân cần được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện. Cần có những chính sách cụ thể để khuyến khích sự tham gia của dân vào các quyết định chính trị, từ đó tạo ra một xã hội dân chủ và công bằng hơn.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh tư tưởng về dân trong nho giáo tiên tần và ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng việt nam từ thế kỷ xi đến thế kỷ xv

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG TƯ TƯỞNG CỦA NHO GIÁO TIÊN TẦN VỀ DÂN 1.1 Khái lược về một số tác phẩm của Nho giáo tiên Tần. Trước hết, cần phải nói lại thêm rằng, Nho giáo tiên Tần (hay còn gọi là Nho giáo Khổng – Mạnh, Nho giáo nguyên thủy) là giai đoạn đầu trong lịch sử hình thành và phát triển Nho giáo Trung Quốc. Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử là những nhà tư tưởng tiêu biểu của Nho giáo tiền Tần. Nghiên cứu tư tưởng của những đại biểu này cũng như Nho giáo tiên Tần (và cả Nho giáo nói chung) chủ yếu dựa vào các tác phẩm Luận ngữ, Mạnh Tử và Tuân Tử (trong đó sách Luận ngữ và sách Mạnh Tử được là những tác phẩm kinh điển của Nho gia).

Luận ngữ là cuốn sách do các học trò của Khổng tử ghi chép lại và bàn luận những lời nói, lời dạy của Khổng Tử với học trò (do vậy mà có nhiều nhà nghiên cứu coi cuốn sách này là tác phẩm “tản văn chư tử”). Sách Luận ngữ gồm 20 thiên, tổng cộng 192 chương. Luận ngữ là nguồn tư liệu phong phú về cuộc đời và học thuyết của Khổng Tử, là bộ sách giáo dục sớm nhất ở Trung Quốc (được chính thức dung làm sách giáo khoa từ thời nhà Đường). Sách này có tầm ảnh hưởng sâu sắc, sâu rộng và lâu dài đối với xã hội và con người Trung Quốc và nhiều nước đồng văn, trong đó có Việt Nam.

Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, mỗi thiên lại chia thành phần thượng và phần hạ (đời sau gọi là chương cú thượng và chương cú hạ). Vì vậy, toàn bộ cuốn sách gồm 14 chương cú. Trong Mạnh Tử liệt truyện, Tư Mã Thiên khẳng định rằng, sách Mạnh Tử do Mạnh Tử viết. Như ông nói: “Lui về cùng với Vạn Chương chi đồ tự Thi, Thư, thuật ý Khổng Tử, viết Mạnh Tử thất thiên”.

Và dù rằng, trong Mạnh Tử liệt truyện, Tư Mã Thiên nói Mạnh Tử là học trò của Tử Tư (cháu nội Khổng Tử) và như lời của chính Mạnh Tử: “Tôi -9- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không được làm môn đồ Khổng Tử, tôi tự học theo người” nhưng sách Mạnh Tử là sự tiếp thu những tinh hoa trong sách Luận ngữ, là sự phát triển tư tưởng của Khổng Tử (do vậy mà đời sau gọi ông là Á Thánh). Cũng như sách Luận ngữ, sách Mạnh Tử có ảnh hưởng đặc biệt to lớn đến đời sống tinh thần, đời sống chính trị, phong tục, tập quán của người dân Trung Quốc và các nước đồng văn với Trung Quốc và chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử nói riêng và Nho giáo tiên Tần nói chung, có thể thông qua, tham khảo them 2 cuốn sách khác là Đại học và Trung dung. Theo lời thuật của Chu Hy (trong Tứ thư tập chú), Đại học và Trung dung là hai thiên trong bộ Lễ ký được Chu Hy tách ra thành hai cuốn sách riêng biệt, bỏ công chú giải (chú) và gom nhặt (tập) ý kiến chú giải của các nhà Nho khác, đặc biệt là những chú giải của hai anh em họ Trình (Trình Hạo và Trình Di) [40, tr.

Đại học là do Tăng Tử (Tăng Sâm – học trò của Khổng Tử) viết. Sách này gồm 1 chương kinh văn ghi lại lời của Khổng Tử và 10 chương truyện là lời Tăng Tử giải thích kinh văn (giải thích tư tưởng Khổng Tử). Theo Chu Hy, sách Đại học là “cửa vào đức của người mới học”. Trung dung là do Tử Tư (còn gọi là Khổng Cấp – cháu nội của Khổng Tử ) viết.

Cụ thể là, phần đầu của cuốn sách này gồm 20 chương kinh văn (chép lại lời của Khổng Tử) và phần sau (gồm 13 chương) chép lại những chú giải, giải thích lời kinh văn ( lời của Khổng Tử). Mặt khác, có một điểm dễ nhận thấy rằng, giữa sách Trung dung và sách Mạnh Tử có nhiều điểm tương đồng, thậm chí có nhiều đoạn trong hai sách ấy hoàn toàn giống nhau. Điều đó cho thấy, giữa Tử Tư và Mạnh Tử, tư tưởng của hai ông có ảnh hưởng với nhau. Sách Trung dung được xem là “tâm pháp truyền thụ của Khổng môn”, vì rằng, ngoài ý nghĩa xâu xa, Tử Tư đã tiếp tục giải thích và phát tiển tư tưởng của Khổng Tử là khuyên người ta “doãn chấp, quyết trung” (Thành -10- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực dốc lòng giữ trung đạo), “chấp lưỡng dụng trung” (cân nhắc hai đầu mối mà dùng chỗ trung), tức là theo ông, mọi người nên tránh chỗ cực đoan, không thái quá và cũng không bất cập (vì đều xa rời trung), mà nên luôn giữ trạng thái hài hòa, cân bằng, vừa phải (trung dung).

Đại học và Trung dung chiếm địa vị rất cao, sánh ngang với Luận ngữ, Mạnh Tử, hợp thành bộ Tứ thư. Dù vậy, như trên đã trình bày, xét về nội dung và nguồn gốc ra đời, những tư tưởng trong Đại học và Trung dung về cơ bản là khá “đồng, hợp” với tư tưởng trong sách Luận ngữ và sách Mạnh Tử. Do vậy, trong luận văn này, chóng t«i chủ yếu dựa vào sách Luận ngữ, sách Mạnh Tử và ngoài ra là sách Tuân Tử để trình bày tư tưởng của Nho giáo tiên Tần về dân.2 Phạm trù dân trong Nho giáo tiên Tần. Trong các sách Luận ngữ, sách Mạnh Tử và sách Tuân Tử (những cuốn sách được xem là kinh điển chủ yếu, thể hiện những nội dung chủ yếu của Nho giáo tiên Tần) thì cho thấy, phạm trù dân (dân là ai, gồm những tầng lớp nào) trong những cuốn sách này, chủ yếu được các nhà Nho đặt trong mối quan hệ đối lập với tầng lớp khác - tầng lớp trị dân (gồm vua, quan).

Cơ sở và căn cứ chủ yếu để các nhà Nho tiên Tần phân biệt và chỉ ra sự khác nhau giữa hai tầng lớp này là do sự khác nhau chủ yếu về đạo đức và tài trí, về địa vị và vai trò xã hội của các tầng lớp này. Có thể khái quát một số nội dung cụ thể trong quan niệm (phạm trù) về dân như sau: Thứ nhất, theo các nhà Nho tiên Tần, phạm trù dân bao gồm nhiều giai tầng khác nhau và về cơ bản, họ có cùng địa vị kinh tế, vai trò xã hội, là bộ phận nhiều nhất trong dân cư, đối lập với giai cấp thống trị (hay tầng lớp cầm quyền, cai trị gồm nhà vua và đội ngũ quan lại các cấp). Thứ hai, theo quan niệm của các nhà Nho tiên Tần, dân là những người bị sai khiến, bị điều khiển. Như trong sách Luận ngữ, Khổng tử đã từng nói, đối với dân thì không nên giảng giải những điều vi diệu, cao siêu mà nên dạy -11- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những điều để dễ sai khiến họ [85, tr.

Khổng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử luôn khẳng định, địa vị xã hội của người dân là những người nô lệ, bị trị, họ luôn chịu sự sai khiến, cai trị của tầng lớp thống trị, do vậy, họ là tầng lớp đối lập với giai cấp thống trị. Và với ý nghĩa này, trong các tác phẩm Luận ngữ, Mạnh Tử và Tuân Tử dân có nhiều cách gọi khác nhau. Vì dân được các nhà Nho tiên Tần xem là những người không có hoặc hèn kém về đạo đức, về trí tuệ, lại là những người bị sai khiến, bị cai trị, cho nên, dân được gọi là kẻ "tiểu nhân" và đối lập với người quân tử. Chữ "Tiểu nhân" - ý chỉ người dân, được các nhà Nho tiên Tần nhắc đến trên ba mươi lần, trong đó sách Luận ngữ chiếm nhiều hơn cả (khoảng hai mươi lần).

Cách gọi này chiếm tỷ lệ cao hơn so với cách gọi khác nhằm chỉ “dân” là người bị điều khiển, bị thống trị. Trong cách nhìn và quan niệm của các của các nhà Nho tiên Tần, dân với tên gọi là kẻ tiểu nhân là hạng người không có địa vị và nhất là không có vai trò và sức mạnh to lớn như người quân tử. Như trong sách Luận ngữ, Khổng Tử nói: "Đức hạnh của người quân tử (người trị dân) như gió, mà đức hạnh của dân như cỏ. Gió thổi thì cỏ tất rạp xuống" [46, tr.

"Tiểu nhân" với tư cách là người bị trị không bao hàm "nho tiểu nhân", tức là những kẻ sĩ thiếu tư cách đạo đức tuy họ có tri thức, có tài nghệ. Muốn trở thành "nho quân tử", phải có đủ cả hai tiêu chí đó (đạo đức và tài trí). Bởi vậy mà Khổng tử từng bảo Tử Hạ: "Anh nên làm nhà nho quân tử, không nên làm nhà nho tiểu nhân"[46, tr. Trong sách Luận ngữ, có đôi chỗ, theo Khổng Tử, sở dĩ dân là người bị sai khiến, người bị điều khiển vì họ là kẻ "hạ ngu".

"Hạ ngu" là chỉ tầng lớp người hèn kém về trí tuệ, là hạng người không có tài trí, họ là những người bất tiếu, đối lập với những người hiền, người trí, người quân tử. Sử dụng thuật ngữ "hạ ngu" để chỉ người dân, đã cho thấy, Khổng Tử rất khinh miệt tầng lớp dân đen, nô lệ trong xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ. Những kẻ "hạ ngu", "khốn nhi bất học" và dẫu có học chăng nữa cũng không thể hiểu được đạo lý, -12- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho nên Khổng Tử nói: “những điều vi diệu cao siêu thì không nên giảng giải cho họ”. Khổng Tử còn cho rằng, dân- kẻ hạ ngu là đối lập với bậc thượng trí (là hạng người mà theo ông, sinh ra không cần học cũng đã biết).

Sự đối lập này, như Khổng Tử đã nói trong sách Luận ngữ: "chỉ có bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là không thay đổi" [46, tr. Còn trong sách Mạnh Tử, ông gọi dân là kẻ "lao lực", tức là những người lao động chân tay, là lực lượng sản xuất ra hầu hết của cải để duy trì sự tồn tại của xã hội, của mỗi người và cho cả tầng lớp thống trị. Theo Mạnh Tử, dân bao gồm ba hạng người: công, nông và thương, có trách nhiệm và nghĩa vụ nuôi dưỡng người, phải chăm sóc kẻ “lao tâm” và phục vụ người cai trị. Kẻ "lao lực" trong quan niệm của Mạnh Tử, cũng giống như Khổng Tử, thực chất là những người thiếu đạo đức và trí tuệ, thuộc tứ dân bách tính tầm thường, trong đó chủ yếu là người nông dân của xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ.

Theo sự lý giải của Mạnh Tử thì, trong xã hội bao giỡ cũng "có người làm việc bằng tâm trí; có kẻ làm việc bằng tay chân. Người làm việc bằng tâm trí thì cai trị dân chúng; kẻ làm việc bằng tay chân thì chịu quyền điều khiển, sai khiến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tư tưởng về dân trong Nho giáo Tiên Tần và ảnh hưởng đến tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến XV" khám phá những quan điểm về vai trò của dân trong Nho giáo Tiên Tần và cách mà những tư tưởng này đã ảnh hưởng đến tư tưởng Việt Nam trong suốt nhiều thế kỷ. Tác giả phân tích các khái niệm cốt lõi về dân, sự gắn kết giữa dân và chính quyền, cũng như những giá trị đạo đức mà Nho giáo mang lại cho xã hội Việt Nam. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ tư tưởng này không chỉ giúp làm sáng tỏ lịch sử tư tưởng Việt Nam mà còn cung cấp những bài học quý giá cho việc xây dựng xã hội hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ tư tưởng của nho giáo tiên tần về dân và ảnh hưởng của nó trong lịch sử tư tưởng việt nam từ thế kỷ xi đến nửa thế kỷ xix. Tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về ảnh hưởng của Nho giáo đối với tư tưởng và văn hóa Việt Nam, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về mối liên hệ giữa tư tưởng cổ điển và hiện đại.