Tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử và việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay

Khám phá tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử và ứng dụng vào xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay trong luận văn thạc sĩ USSH.

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

102
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội thời Trần cho sự ra đời tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

1.2. Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

1.2.1. Một vài nét về tiền đề của thiền phái

2. CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

3. CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG NHỮNG GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ VÀO XÂY DỰNG NHÂN CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử và nhân cách người Việt

Tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử là một trong những hệ thống tư tưởng tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam, được hình thành trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của triều đại Trần. Tư tưởng này không chỉ phản ánh những giá trị văn hóa, tinh thần của dân tộc mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách người Việt Nam hiện đại. Tư tưởng Trúc Lâm Yên Tử, với những nguyên lý như từ bi, bác ái, và sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, đã tạo ra một nền tảng vững chắc cho việc xây dựng nhân cách con người trong xã hội hiện đại.

1.1. Tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử Nguồn gốc và phát triển

Tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử được hình thành từ những giá trị văn hóa, lịch sử và tôn giáo của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, triết lý của Trần Nhân Tông, người sáng lập thiền phái Trúc Lâm, đã kết hợp giữa tư tưởng Phật giáo và những giá trị văn hóa bản địa, tạo nên một hệ thống tư tưởng độc đáo. Sự phát triển của tư tưởng này không chỉ gắn liền với lịch sử mà còn phản ánh những nhu cầu tinh thần của con người trong xã hội.

1.2. Ảnh hưởng của tư tưởng Trúc Lâm đến nhân cách người Việt

Tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhân cách người Việt Nam hiện đại. Những giá trị như lòng từ bi, sự hòa hợp và tinh thần trách nhiệm đã trở thành những phẩm chất quan trọng trong việc hình thành nhân cách. Các giá trị này không chỉ được thể hiện trong đời sống cá nhân mà còn trong các mối quan hệ xã hội, góp phần xây dựng một cộng đồng vững mạnh.

II. Vấn đề và thách thức trong việc áp dụng tư tưởng Trúc Lâm vào nhân cách hiện đại

Mặc dù tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử mang lại nhiều giá trị tích cực, nhưng việc áp dụng vào thực tiễn hiện đại cũng gặp không ít thách thức. Sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại, cùng với những biến đổi trong lối sống và tư duy của con người, đã tạo ra những khó khăn trong việc duy trì và phát huy những giá trị truyền thống. Cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể để vượt qua những thách thức này.

2.1. Thách thức từ sự phát triển xã hội hiện đại

Sự phát triển của công nghệ và toàn cầu hóa đã tạo ra những thay đổi lớn trong lối sống và tư duy của con người. Những giá trị truyền thống như lòng từ bi, sự hòa hợp có thể bị lãng quên trong bối cảnh cạnh tranh và áp lực xã hội. Điều này đặt ra thách thức lớn cho việc duy trì và phát huy tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử trong đời sống hiện đại.

2.2. Giải pháp để áp dụng tư tưởng Trúc Lâm vào nhân cách hiện đại

Để áp dụng tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử vào việc xây dựng nhân cách người Việt Nam hiện đại, cần có những giải pháp cụ thể. Việc giáo dục và truyền bá những giá trị này trong gia đình, nhà trường và cộng đồng là rất quan trọng. Đồng thời, cần khuyến khích sự sáng tạo trong việc kết hợp các giá trị truyền thống với những yếu tố hiện đại để tạo ra một nhân cách toàn diện.

III. Phương pháp vận dụng tư tưởng Trúc Lâm vào xây dựng nhân cách

Việc vận dụng tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử vào xây dựng nhân cách người Việt Nam hiện nay cần được thực hiện qua nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này không chỉ giúp nâng cao nhận thức về giá trị của tư tưởng mà còn tạo ra những hành động cụ thể trong đời sống hàng ngày.

3.1. Giáo dục và truyền bá tư tưởng Trúc Lâm

Giáo dục là một trong những phương pháp quan trọng nhất để truyền bá tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử. Các chương trình giáo dục cần được thiết kế để giúp học sinh, sinh viên hiểu rõ về những giá trị của tư tưởng này, từ đó áp dụng vào cuộc sống hàng ngày.

3.2. Thực hành các giá trị Trúc Lâm trong đời sống

Việc thực hành các giá trị của tư tưởng Trúc Lâm Yên Tử trong đời sống hàng ngày là rất cần thiết. Các hoạt động như tình nguyện, giúp đỡ cộng đồng, và tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao có thể giúp nâng cao nhận thức và thực hành những giá trị này.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về nhân cách người Việt

Nghiên cứu về ảnh hưởng của tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử đến nhân cách người Việt Nam hiện đại đã cho thấy nhiều kết quả tích cực. Những giá trị như lòng từ bi, sự hòa hợp và tinh thần trách nhiệm đã được thể hiện rõ trong các mối quan hệ xã hội và đời sống hàng ngày.

4.1. Kết quả từ việc áp dụng tư tưởng Trúc Lâm

Việc áp dụng tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử đã giúp nâng cao nhận thức về giá trị của lòng từ bi và sự hòa hợp trong cộng đồng. Nhiều cá nhân đã trở thành những tấm gương sáng trong việc thực hành các giá trị này, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

4.2. Những bài học từ thực tiễn

Từ những kết quả đạt được, có thể rút ra nhiều bài học quý giá cho việc xây dựng nhân cách người Việt Nam hiện đại. Cần tiếp tục phát huy những giá trị truyền thống, đồng thời kết hợp với những yếu tố hiện đại để tạo ra một nhân cách toàn diện và phù hợp với bối cảnh xã hội hiện nay.

V. Kết luận và tương lai của tư tưởng Trúc Lâm Yên Tử

Tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử không chỉ là một phần quan trọng trong di sản văn hóa của dân tộc mà còn có ý nghĩa sâu sắc trong việc xây dựng nhân cách người Việt Nam hiện đại. Việc duy trì và phát huy những giá trị này là cần thiết để tạo ra một xã hội văn minh, tiến bộ.

5.1. Tương lai của tư tưởng Trúc Lâm trong xã hội hiện đại

Tương lai của tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử phụ thuộc vào khả năng áp dụng và phát huy những giá trị của nó trong bối cảnh xã hội hiện đại. Cần có những nỗ lực từ cả cộng đồng và các tổ chức để duy trì và phát triển những giá trị này.

5.2. Vai trò của tư tưởng Trúc Lâm trong việc xây dựng nhân cách

Tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhân cách người Việt Nam. Những giá trị như lòng từ bi, sự hòa hợp và tinh thần trách nhiệm sẽ là nền tảng cho một xã hội phát triển bền vững.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh tư tưởng triết học của trường phái trúc lâm yên tử và vận dụng một số tư tưởng đó vào việc xây dựng nhân cách con người việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu và xây dựng thành một hệ thống triết học thống nhất, hoàn toàn Việt Nam, dứt bỏ các truyền thống thừa cũ có từ bên ngoài. Có thể nói đó là một biểu hiện của sự phát triển ý thức dân tộc. Về Phật học Trần Thánh Tông có những tác phẩm sau: 1. Thiền Tông chỉ nam; 2.

Lục Thời Sám Hối Khoá Nghi; 3. Kim Cương Tam Muội Kinh chú giải; 4. Bình Đẳng Lễ Sám Văn; 5. Có những tác phẩm trên đây không còn, nhưng một số bài vẫn còn và được giữ lại trong tập Khoá hư lục.

Trong Phật giáo nói chung và thiền tông nói riêng, “Tâm” là một khái niệm quan trọng nhất. Bởi vậy, chúng ta phải đi phân tích khái niệm “Tâm” trước khi vào bản thể luận trong triết học Trần Thái Tông. “Tâm” được dịch từ Vijnàna, Manas và Citta (Thức, Ý, Tâm) Như vậy, lại có một tổ hợp gồm ý thức, ý tâm, tâm ý và tâm thức. Ở đây, ý tâm và tâm ý tương đối gần nhau, còn ý thức và tâm thức thì lại khó phân biệt.

Phật giáo quan niệm con người là sự kết hợp của các yếu tố động. Trung tâm của dòng này theo nghĩa trừu tượng đó là tâm thức. Theo người phương Đông, tâm thức đi qua ba giai đoạn: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn chưa có cái ta, giai đoạn này phản ánh trung thành của ngoại cảnh. Giai đoạn thứ hai là sự trưởng thành của cái ta.

Giai đoạn thứ ba siêu thoát nhị nguyên, tức là giai đoạn giải thoát cái siêu ngã để nhập vào đại toàn thể, nhà Phật gọi là giai đoạn “đáo bỉ ngạn” (Vượt qua bờ bên kia), giai đoạn của triết lý nhất nguyên. Nguyễn Hùng Hậu nghiên cứu về Suzuki trong “Nghiên cứu kinh lăng già” của Suzuki cho rằng Citta, Alaya (A-lại-da) Tathagatagarbha (Như Lai Tạng) là Tâm. Tâm (Citta) nuôi lớn Nghiệp (Karma), Nghiệp có nghĩa là hành động hay động tác, hành động đẻ ra hậu quả của nó, cho nên nghiệp hay đi với chữ quả hay báo là nói kết quả của những hành động từ trước đẻ ra. Do đấy mà Nghiệp còn có một ý nghĩa siêu hình học và tâm lý học là lý nhân quả.

Ý (manas) là thám xét và thức (Vijnana) là biện biệt (ở đây có một số học giả Tây phương cho rằng Đông phương triết học hãy còn ở trong vòng vô thức của người bán khai, chưa biết biện biệt cái trong và cái ngoài. “Thường lầm lẫn phần tử với toàn thể” - Bougle, nhưng ở đây ông chỉ nói đúng với tâm trạng người bán khai cổ lỗ, chứ không đúng với tâm trạng người giác ngộ). Cái tâm tổng hợp gồm Tâm (Citta), ý tâm (Manas), ý thức (Vijnana) và những thức khác vốn yên lặng và thanh tịnh nhưng khi xuất hiện vọng động trên bề mặt của tâm thì nó bị phân ra thành bát thức. Bởi vì tâm với nghĩa là thu góp, Tathagatagarbha (Như Lai Tạng) cũng là một loại kho chứa và Alaya (A-lại-da) cũng là kho (tạng) chứa hay thu gom tất cả tập khí của tư tưởng, tình cảm, ước muốn hành động của con người.

Nhưng Như lai Tạng (Tathagatagarbha) lại nghiêng về tôn giáo mà A-lai-da (Alaya) nghiêng về triết học. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Manas (ý) là thế giới bên trong, nhưng không hẳn là toàn bộ thế giới bên trong. Nó bao gồm những tính chất như trí thức, lý trí, nhận thức, lý. Ngoài ra còn có cả tình cảm, xúc cảm, cảm xúc, tình.

Tâm trong một số trường hợp lại chỉ riêng cho mỗi cái như A-lại-da (Alaya), ý (Manas) hay thức (Vijnana). Trường hợp xem tâm là hệ thống bát thức vận hành theo tám cách khác nhau thì đúng hơn. Các tập khí (Vasana) luôn để lại các thuộc tính, tính chất của nó trong các sự vật, hiện tượng mà nó xông ướp. Tập khí (Vasana) là một loại năng lượng siêu nhiên mà không thể nghĩ về chúng được.

Chức năng của ý (Manas) là suy nghĩ về Alaya sáng tạo, phân biệt chủ thể và đối tượng từ các nhất thể thuần tuý của Alaya. Tập khí tích tụ trong Alaya bây giờ bị phân ra thành nhị biên tính. Điều này được so sánh với sự đa dạng của sóng quấy động biển Alaya ý (Manas) là xấu theo nghĩa đó, là nguồn gốc gây lên tai hoạ, khi nó có những khát vọng dựa trên những phán đoán lầm lạc, chẳng hạn chấp vào ngã, thế giới hiện tượng là thật. Thức luôn suy nghĩ về ý, đi cùng với nhau, qua lại để tạo nên thế giới hiện tượng.

Thức khác với ý ở chỗ nó chủ yếu giữ lại chức năng về tri thức của ý. Vậy tâm là một kho chứa vô tận các dấu ấn, dấu vết vốn được tích tụ từ thời vô thuỷ. Ý chính là sự sáng tạo của Tâm. Nguyễn Hùng Hậu cho rằng: Tâm có nhiều cấp độ khác nhau.

Thứ nhất nếu “Tâm” là trái tim bằng xương bằng thịt thì Phật không để ý tới. Tâm là thức (Vijnana) thì theo một nghĩa nào đó là ý thức thông thường của con người. Nhưng không chỉ là ý thức mà nó còn là toàn bộ thế giới bên trong. Nghĩa là ngoài lý ra còn phải có cả tình.

Cái Tâm này chính là ý. Nó cũng là bát thức. Trong Phật giáo, Tâm là bản thể vũ trụ (tâm thể, chân tâm). Khái niệm tâm ở Việt Nam còn được dùng bằng những từ như “lòng”, “bụng”, “dạ” theo cấp bậc chủ quan thì nó thiên về tình cảm, bởi vậy tư duy, lối sống thường 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mang màu sắc tình cảm.

Nhưng cũng chính nó lại làm hạn chế đến tiếp thu sáng tạo những tri thức duy lý, khoa học kỹ thuật để hình thành nên cách nhìn khoa học. Thứ hai, bên cạnh khái niệm “Tâm” là khái niệm về “Pháp” (Dharma) nó là tất cả vật chất và ý thức, cả cái tương đối lẫn cái tuyệt đối. Phật giáo ngay từ đầu đã thừa nhận sự tồn tại các pháp, như vậy nó cũng thừa nhận thế giới vật chất là tồn tại chứ không như không luận (Sunyavada) của đại thừa sau này. Đi liền với từ “Pháp” có từ “Thân” tạo nên thành một khái niệm “Pháp thân” (Dharma Kaya).

Đây là một khái niệm quan trọng của đại thừa. Trong đại thừa có quan niệm tam thân. Đây là quan niệm mà có ba khía cạnh khác nhau của một hình ảnh: 1. Pháp thân (hay thân pháp) (Dharma Kaya) biểu hiện thực tại đầu tiên bất biến.

Báo thân (Sambhoga Kaya) gắn với sự ngự trị của vật trong thế giới siêu nhiên. Ứng thân (Nirmana Kaya) là ứng hiện của Phật với khuôn mặt người bình thường trong thế giới hiện hữu. Đối với tư trào Đại thừa thì Phật là nguyên lý tối cao với tư cách là Pháp thân, cái tuyệt đối, không sinh mà cũng không mất. Tất cả các Đức Phật đều là thể hiện của Pháp thân.

Phật giáo nguyên thủy Việt Nam trong các tác phẩm của Mâu Tử và Khương Tăng Hội được mô tả theo đúng tinh thần của tư trào Đại thừa, một tư trào Phật giáo rất năng động và tích cực kết hợp nhuần nhuyễn tính phóng khoáng, không cố chấp, không giáo điều. Thứ ba, đi liền với Pháp còn có một khái niệm nữa là Tính. Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi đã đề cập đến một loạt những khái niệm có tính chất bản thể luận, chẳng hạn như “Chân Tâm”, “Chân Tính”, “Chân Thân”, “Pháp Tính”, “Hư Vô”, “Như Như”, “Phật Tâm”. Họ cho rằng bản thể tồn tại khắp mọi nơi, mọi lúc, không sinh cũng không diệt.

“Bất sinh diệc bất diệt Bất thường diệc bất đoạn 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bất nhất diệc bất dị Bất lai diệc bất xuất…” Long Thọ (Không sinh cũng không diệt. Không thường cũng không đoạn. Không phải là một, cũng không phải là khác. Không đến cũng không đi).

Tất cả cái gì ta tri giác ở trong hay ở ngoài theo liên tưởng với sự tri giác cùng với tinh thần năng tri đều huyền ảo như cảnh vật trong mộng. Bởi thế mà bảo rằng không có vật tinh thần hay phi tinh thần có thực cả. Thế giới là Không (Sunya) là Chân không. Tư tưởng vô trú siêu việt: không phải là không có, tất cả mọi sự vật đều do nhân duyên mà có, có một cách tương đối.

Ở đây, bản thể với thế giới hiện tượng cũng là một, giống như sóng với nước. “Chân thân thành vạn tượng Vạn tượng tức chân thân” Sau thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi là Vô Ngôn Thông, dòng thứ hai du nhập vào Việt Nam đã đưa ra khái niệm “Thể”. Họ cho rằng: Thể có ở trong vạn vật nuôi dưỡng mọi sự vật nhưng lại không phải là các sự vật đó. Ngoài khái niệm “Thể” Vô Ngôn Thông còn có thêm “Chân Như” “tính”, “Pháp tính”, “Pháp thân”, “Hư Không”, “Không tịnh”, “Thể”, “Thân Tâm”.

Bản thể có ở khắp mọi nơi có ở trong mỗi người. Khái niệm “Không”, “Hư”, “Hư không”, “Thái hư” của Trần Thái Tông ra đời trên nền tảng của cái đã đi trước để kế thừa, phát triển những tư tưởng của các thiền phái trên. Khái niệm “Không” của nhà Phật một mặt chỉ bản thể, sự khởi nguyên của vũ trụ. Mặt khác chỉ sự quan hệ trong thế giới hiện tượng với sắc.

Không không có nghĩa là không có gì, không phải là phủ định mọi sự vật hiện tượng. Không cũng là có mà cũng không thật. Xét ở góc độ này thì không ở đây là thế giới hiện tượng. Nó bao hàm tất cả mâu thuẫn “Có” và “Không”.

Còn “Không” bản thể của nhà Phật thì thế giới hiện tượng hình 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com danh sắc tướng là huyền ảo, không có gì là thật. Tất cả những gì mà từ giác quan đi vào (sắc, thụ, tưởng, hành thức) đều là giả, tự nó không thật. Ở đây, “Không” của nhà Phật đã vượt lên sự mâu thuẫn, nó không sinh không diệt, không phải không trái, không thêm, không bớt, không thiện, không ác. Mà “Không” cũng “Hư”.

Nhưng “Không” nghiêng về khách quan bên ngoài, còn “Hư” nghiêng về chủ quan bên trong. Trần Thái Tông dùng khái niệm “Hư” để đặt tên “Khoá hư Lục” cho sách. “Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không, thị vọng tòng không, không hiện vọng, vọng sinh chúng sắc”. Từ cái thực tại siêu nhiên nổi lên vọng động lầm mê thấy có hình tướng.

Hình tướng từ cái ý thức chân thực siêu nhiên mà ra, ấy là mê lầm theo chỗ vốn không mê lầm chân thật mà xuất hiện. Mê lầm mà sinh ra các hình tướng khác nhau vô số. Như vậy, “Không” ở đây là cái tuyệt đối, là thái hư, chân tể. Từ cái không tuyệt đối đã khởi nguyên lên vọng - tức là vô minh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tư tưởng triết học Trúc Lâm Yên Tử và ảnh hưởng đến nhân cách người Việt Nam hiện đại" khám phá sâu sắc triết lý Trúc Lâm Yên Tử, một trường phái Phật giáo Việt Nam, và cách nó định hình nhân cách của người Việt trong bối cảnh hiện đại. Tác giả phân tích các giá trị cốt lõi của tư tưởng này, như sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, lòng từ bi, và tinh thần tự lực cánh sinh. Những giá trị này không chỉ giúp người Việt Nam hiện đại tìm thấy sự bình an trong tâm hồn mà còn khuyến khích họ phát triển bản thân và cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về ảnh hưởng của Phật giáo trong văn hóa và đời sống tinh thần, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ tôn giáo học ảnh hưởng của giáo lý nhân quả phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần người dân thành phố đà lạt, nơi phân tích sâu về giáo lý nhân quả và tác động của nó đến văn hóa. Ngoài ra, tài liệu Xác lập liễu nghĩa giảng luận điểm cao sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về triết lý Phật giáo Ấn Độ và sự liên hệ của nó với tư tưởng Trúc Lâm. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh ảnh hưởng của phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên qua khảo sát tại xã đại đồng huyện thạch thất hà nội hiện nay sẽ cung cấp cái nhìn về sự giao thoa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian, từ đó làm phong phú thêm hiểu biết của bạn về văn hóa Việt Nam. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của tư tưởng Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống con người.