phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chƣơng, 5 tiết. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NÓ 1. Điều kiện, tiền đề cho sự ra đời của tƣ tƣởng pháp trị Hàn Phi Tử 1.
Bối cảnh lịch sử, xã hộidẫn đến sự ra đời tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử Lịch sử Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc với bối cảnh kinh tế và xã hội trong thời kì này đã có những tác động tới sự phát triển của các tƣ tƣởng pháp trị trong việc trị quốc “biến động cơ sở kinh tế và sự phát triển của đấu tranh giai cấp ở thời kì Xuân Thu khiến chế độ pháp luật nảy sinh những biến đổi lớn lao, pháp chế thời nô lệ dần dần bị thay thế bởi pháp chế phong kiến, trong đó lấy việc bảo hộ chế độ tƣ hữu phong kiến làm trung tâm”[4,87]. Kinh tế và đời sống vật chất của xã hội phát triển chính là nhân tố quyết định cơ bản nhất của pháp luật và hình thành những tƣ tƣởng pháp luật đầu tiên của Trung Quốc thời kì cổ đại. Trong đó có sự ra đời của tƣ tƣởng Hàn Phi Tử gắn liền với sự phát triển của xã hội Trung Quốc thời kì cổ đại với những biến đổi về các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đã tác động không nhỏ tới sự hình thành tƣ tƣởng của ông. Về kinh tế: Việc phát hiện ra sắt và sử dụng sắt chính là một trong những phát kiến thúc đẩy nền kinh tế thời kì này phát triển lên một tầm cao mới.
Theo các nhà khảo cổ học việc sử dụng đồ sắt đã đƣợc sử dụng tƣơng đối phổ biến ở Trung Quốc trong thời kì Xuân Thu – Chiến Quốc “Theo các sử gia thì thời tịch cổ nhất nói về kỹ thuật nấu sắt viết vào năm 513 Tr. CN, mà theo những cuộc khai quật gần đây thì những đồ bằng gang xuất hiện vào 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khoảng đầu thế kỉ thứ V Tr. Vậy có thể nói rằng thời đại đồ sắt của Trung Hoa bắt đầu vào khoảng 500 năm trƣớc tây lịch, mà kĩ thuật nấu sắt ở Trung Hoa có trƣớc phƣơng Tây non 1. Đồ sắt đã đƣợc phát hiện và sử dụng khá phổ biến, tạo điều kiện cho kĩ thuật canh tác phát triển.
Sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất, có nhiều công cụ bằng sắt đã ra đời nhƣ: lƣỡi cày, cuốc, búa, liềm và một số khuôn đúc bằng sắt sử dụng trong các ngành nghề khác nhau giúp tăng năng xuất, đời sống ngƣời dân đƣợc cải thiện. Tình hình kinh tế phát triển đã dẫn tới những thay đổi trong kết cấu giai cấp xã hội đặc biệt là những biến động về hình thức sở hữu ruộng đất. “Nhờ lƣỡi cày bằng sắt, nhờ biết dùng bò để kéo cày, mà cày sâu hơn, nhanh hơn, đỡ tốn sức hơn. Ngƣời ta lại biết bỏ phân, làm hai mùa, đào kinh dẫn nƣớc.
Nƣớc chƣ hầu nào cũng muốn phú cƣờng để thôn tính các nƣớc bên cạnh, mà muốn phú cƣờng thì trƣớc tiên phải khuếch trƣơng canh nông, nghĩa là phải vừa cải tiến phƣơng pháp canh tác vừa khuyến khích khai phá đất đai mới, vừa thay đổi cách đánh thuế”[16,11]. Việc chia đất cho dân cày (chế độ tỉnh điền), trong giai đoạn đầu khi đất còn rộng, dân còn thƣa thì ngƣời dân vẫn còn ít nhiều thu đƣợc lợi cho mình nhƣng ngƣời dân làm dƣới chế độ này ngày ngày vất vả vì phải phục vụ cho các lãnh chúa, không đƣợc tự do canh tác, mất mùa, chiến tranh sảy ra liên miên khiến họ không đủ ăn, đủ mặc. Thƣơng Ƣởng với tân pháp bỏ chế độ tỉnh điền thay vào đó là khuyến khích ngƣời dân khai hoang đất đai, mở rộng diện tích làm cho kinh tế phát triển. Việc khai hoang đất đai, mở rộng diện tích đất canh tác, thực hiện thâm canh tăng năng xuất làm cho sản lƣợng nông nghiệp ngày càng tăng lên nhanh chóng ngƣời dân đã có thể tích trữ sản phẩm do mình làm ra.
Kéo theo đó là các ngành thủ công nghiệp phát triển hơn trƣớc xuất hiện thêm nhiều ngành nghề mới nhƣ nghề luyện sắt, nghề sơn, nghề muối, ở một số nƣớc chƣ hầu đã 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đặt ra các chức quan cai quản chuyên quản lí về sắt và muối. Nhờ sự xuất hiện các công cụ bằng sắt nghề mộc cũng đã phát triển nhanh chóng việc đóng tàu thuyền dễ dàng hơn, việc đi lại trên sông, trên biển thuận lợi. Ngƣời dân có thể trao đổi hàng hóa giữa các vùng miền dễ dàng, các loại nông sản, hải sản, chăn nuôi thủ công nghiệp. Bên cạnh đó, các công trình thủy lợi trong thời kì này cũng đƣợc coi trọng, nhiều công trình thủy lợi đƣợc xây dựng để ngăn nƣớc lũ, tích trữ nƣớc cho việc tƣới tiêu bên cạnh đó nó còn đóng vai trò quan trọng trong việc giao thông vận tải nối liền các tỉnh thành với nhau thuận tiện cho ngƣời dân đi lại buôn bán.
Trong giai đoạn này xuất hiện các nhà buôn có số vốn lớn đã đầu cơ, tích trữ lũng loạn thị trƣờng. Tiền tệ phát triển đƣợc sử dụng rộng rãi để trao đổi hàng hóa, đóng thuế và cho vay lấy lãi, phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng cao. Từ những biến động mạnh mẽ của nền kinh tế thì các tầng lớp trong xã hội cũng có những sự thay đổi, sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt hơn, trong giai đoạn này tầng lớp thƣơng nhân có tiền đã có thể thuê nhiều lao động làm việc, họ trở nên nhàn rỗi, có nhiều thời gian hơn từ đó họ quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề chính trị, biết lợi dụng chính trị để tạo ra những lợi ích cho công việc buôn bán của mình. Về chính trị - xã hội: Đời nhà Chu chia làm hai thời kì, giai đoạn đầu mới hình thành đóng đô ở đất Phong, đất Cảo thuộc về phía tây nên gọi là Tây Chu(1134-770 tr.
Tới thời Chu Bình Vƣơng rợ Hiểm Doãn và rợ Khuyển Nhung uy hiếp phải rời đô sang Lạc Dƣơng ở phƣơng Đông nên gọi là Đông Chu (770-221). Sau khi rời đô sang phía Đông thì nhà Chu dần suy yếu, quyền lực của lãnh chúa phong kiến bị lung lay. Mệnh lệnh thiên tử nhà Chu không còn đƣợc tuân thủ, trật tự lễ nghĩa kỉ cƣơng trong xã hội bấy giờ bị đảo lộn, đạo đức suy đồi. Cạnh tranh giữa các thế lực cát cứ đẩy xã hội Trung 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hoa cổ đại vào tình trạng chiến tranh liên miên.
Tình hình xã hội ngày càng hỗn loạn, nhà Chu đã đi vào con đƣờng suy tàn, những mâu thuẫn nội bộ trở nên gay gắt, chế độ tông pháp và trật tự của nhà Chu không còn đƣợc duy trì. Nhƣ vậy, trong thời kì này ở mỗi nƣớc chƣ hầu cũng đã có những tƣ tƣởng đƣờng lối cai trị thức thời, cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội đã hình thành nên nhu cầu tách mình ra khỏi nhà Chu, thành lập cho mình một quốc gia độc lập, riêng rẽ. “Xã hội Trung Hoa cuối thời Xuân Thu diễn ra sự rối loạn về quan hệ đẳng cấp và danh phận, quan hệ tông pháp. Tình trạng tôi giết vua, cha con tranh giành quyền lợi với nhau, anh em mâu thuẫn nhau là thƣờng thấy.
Nƣớc Lỗ thời Xuân Thu có trên 30 vụ thí quân. Nếu tính đến cả nƣớc khác thi có đến trên 300 vụ” [37,19]. Ở đầu thời kì Xuân Thu một số nhà tƣ tƣởng vẫn coi trọng đƣờng lối chính trị nhân nghĩa nhƣ chủ trƣơng dùng nhân nghĩa để cai trị dân nhƣ tƣ tƣởng về “nhân - lễ - chính danh” của Khổng Tử, trong thời đại của ông khi mà chế độ tông pháp nhà Chu đã suy tàn, ông đƣa ra giải pháp đó là cải thiện chế độ phong kiến nhà Chu, giáo dục đạo đức con ngƣời. “Giải pháp của Khổng Tử đối với việc cai trị để ổn định xã hội xuất phát từ chủ trƣơng tòng Chu đến thuyết chính danh và sau cùng là chính sách nhân trị” [37,24].
Khác với tƣ tƣởng “tòng Chu” của Khổng Tử thì Mặc Tử phê phán chủ trƣơng về nhân nghĩa của Khổng tử vì ông cho rằng ở đó vẫn có sự phân biệt giữa con ngƣời với nhau, ông chủ trƣơng về thuyết “kiêm ái”, mọi ngƣời trong xã hội ai cũng phải yêu thƣơng nhau, xã hội không còn chiến tranh, cƣớp bóc. Hay tƣ tƣởng của Lão tử về “đạo”, “vô vi” khi hƣớng con ngƣời trở về với một xã hội xƣa cũ, thuận theo thiên nhiên mà hành động, một xã hội không có chiến tranh. Với quốc gia lý tƣởng của ông là một nƣớc nhỏ, ít dân cuộc sống tự cung, tự cấp nhƣ thế thì sẽ không còn tình trạng hỗn loạn nữa. Nhƣng những tƣ tƣởng ấy của các ông khi tồn tại trong 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thời kì Chiến Quốc, xã hội trở nên bất ổn, nó không còn phù hợp nữa.