Chương 1 TƯ TƯỞNG HO CHÍ MINH VE XÂY DỰNG PHAM CHAT NGƯỜI LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ 1. Lý luận về lãnh đạo và quản lý Thực tế, trong mọi thời kỳ, người cán bộ, lãnh đạo đều gift vai trò hét strc quan trong, là một trong những nhân tố quyết định thành công hay thất bại của hệ thống quản lý và hiệu quả của các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội. ở mỗi quốc gia. Do đó, tùy theo từng hoàn cảnh và điều kiện cụ thé, đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải có những phẩm chất và năng lực nhất định.
Phẩm chất của người lãnh đạo là một hệ thống cơ cấu hữu cơ gồm nhiều yếu tố tạo nên. Có quan điểm cho rằng, phẩm chất của người lãnh đạo bao gồm: “Đức” (phẩm chất chính trị), “tài” (tài năng, tài trí), “học” (học vấn), “thức” (kiến thức), “chất” (khí chất), “thể” (thể chất). Theo Lênm, người cán bộ lãnh đạo phải có đủ phẩm chất chính trị, năng lực làm việc hay “uy tín chuyên môn” và phâm cách đạo đức cách mạng. Họ phải đáp ứng các yêu cầu: a) Về mặt trung thực, b) Về lập trường chính trị, c) Về hiểu biết công việc, d) Về năng lực quản lý” [76, tr.
Hơn nữa, phâm chất về chính trị của người lãnh đạo còn được biểu hiện ở năng lực hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, và đưa những chính sách đó vào cuộc sống một cách hiệu quả, hay nói cách khác là “biến các sắc luật từ trạng thái là giấy lộn đầy bụi bặm. thành thực tiễn sông động” [77, tr. Trong xã hội, dé thống nhất ý chí và hành động của mọi người nhằm thực hiện một nhiệm vụ nào đó bao giờ cũng cần có những người đứng ra gánh vác trách nhiệm. Người có nghĩa vụ, trách nhiệm hướng dẫn, lãnh đạo một nhóm người hay một tổ chức nào đó gọi là người lãnh đạo, quản lý.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về lãnh đạo. Koontz: “Lãnh đạo là quá trình tác động đến con người sao cho họ sẽ tự nguyện và nhiệt tình phan dau dé dat duoc các mục tiêu của tô chức. Lãnh đạo là chỉ dẫn, điều khiển, ra lệnh, và di trước” [51. Hersey va Ken Blanchard cho rằng lãnh đạo là một 15 quá trình gây ảnh hưởng đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm nhằm đạt được tình huống nhất định [51, tr.
Từ thực tiễn các quan niệm về lãnh đạo, có thé hiểu lãnh đạo theo nghĩa rộng là tác động gây ảnh hưởng tích cực tới con người nhằm hướng tới hoàn thành mục tiêu của tô chức. Lãnh đạo là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của các các nhà lãnh đạo, các thủ lĩnh, người đứng đầu một tổ chức, có thầm quyền đặc biệt trong tô chức đó. Thuật ngữ “lãnh đạo” được hiểu là “đề ra chủ trương, đường lối và tô chức, động viên thực hiện” [80, tr. Lãnh đạo thường thiên về hoạch định đường lối, chính sách; người lãnh đạo là nhà chính trị.
Về phương thức tác động, lãnh đạo sử dụng chủ yếu phương pháp động viên, thuyết phục, gây ảnh hưởng. Nội dung lãnh đạo gồm xác định phương hướng, mục tiêu lâu dài, lựa chọn chủ trương, chiến lược, điều hòa các hoạt động lãnh đạo, quản lý, động viên toàn xã hội cùng thực hiện. Lãnh đạo giúp cho tô chức, cá nhân thực hiện được mục đích, tôn chỉ mà lực lượng lãnh đạo đặt ra, đồng thời giám sát tô chức, cá nhân thực hiện nghiêm túc. Trong khoa học chính trị, “lãnh đạo là sự dẫn dắt xã hội băng chính trị và đạo đức của người đứng đầu, là một chức năng cơ bản của đảng cầm quyên, lãnh tụ quốc gia nhằm đưa đất nước tới các mục tiêu nhất định băng cương lĩnh, đường lối chính trị, các chiến lược phát triển.
Theo đó, lãnh đạo là quá trình một cá nhân hay một nhóm gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các hoạt động chính trị, xã hội nhằm đạt được mục tiêu chung. Các thuật ngữ “lãnh đạo” và “quản lý” thường dé gây nhằm lẫn, nhưng thực chất các thuật ngữ này có sự khác biệt nhất định. “Quản lý” là thực hiện một chức năng cơ bản như kế hoạch hóa, tô chức, điều phối, kiếm soát các hoạt động để đạt được mục tiêu của tô chức. Các nhà quản lý thường quan tâm đến mục tiêu ngắn hạn và hiệu quả của việc đạt được những mục tiêu đó.
Còn “lãnh đạo” có khả năng bao quát hơn, thông thường, người lãnh đạo phải xác định tầm nhìn lâu dài ảnh hưởng tới mục tiêu dài hạn và chú trọng về các vấn đề tạo động lực, thúc đây thực hiện mục tiêu đã đưa ra. “Người lãnh đạo” là người đứng đầu, phụ 16 trách một đơn vị, địa phương hoặc phong trào nào đó được chỉ định hoặc do nhân dân bầu. Người lãnh đạo là người trực tiếp đưa ra chủ trương, phương hướng, quyết định những vấn đề chiến lược và tô chức thực hiện. Người lãnh đạo có vai trò dẫn dat, điều hành tổ chức, phong trào theo một hướng di cụ thé, chỉ đạo bằng quyên hành thông qua mệnh lệnh.
Người lãnh đạo là người điều chỉnh những quyết sách phù hợp với thực tiễn điều kiện của từng địa phương. Dé thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, quan lý, đòi hỏi người lãnh đạo phải có phẩm chat, năng lực, uy tín, đại diện cho số động, cho tập thể. Hơn nữa, nhà lãnh đạo cũng cần am hiểu các nguồn phương tiện của quyền lực của họ. Quyền lực có thé được phân chia theo một cách rộng rãi hay hạn hẹp trong một tập thé hay một tổ chức và nhà lãnh đạo có thể hành động bằng quyền lực hay không có quyền lực tùy thuộc vào việc họ sử dụng phương tiện quyền lực trong từng bối cảnh cụ thé.
Người quản lý thực hiện vai trò “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cau nhất định” [80, tr. Người quản lý là những người điều hành, hướng dẫn tô chức các hoạt động theo những yêu cầu cụ thể. Để làm tốt vai trò của mình, người quản lý phải giỏi về chuyên môn, có năng lực, phẩm chất điều khiến, tổ chức công việc và tập thé. Trong thực tế, hoạt động lãnh đạo, quản lý có chức năng khác nhau nhưng không tách biệt mà luôn gắn bó mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau, thống nhất chặt chẽ trong hoạt động của những người có chức vụ trong một hệ thống tô chức xã hội.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý là những người được bé nhiệm ra theo thé thức do luật định, chức năng của họ là lãnh đạo và quản lý, chức năng này được thé hiện ở chỗ họ là người tuyển chọn va phân bổ cán bộ, phối hợp công việc của những người thừa hành về sản xuất và quan lý, đảm bảo sự hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả cho cả tập thể hoặc một tổ chức. Vì vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý là người có giữa một cương vị nhất định trong xã hội, có trách nhiệm và thầm quyền thực thi một công việc nào đó. Trong quá trình phát triển của lịch sử, mỗi thời kỳ khác nhau, chức trách và vai trò của người lãnh đạo, quản lý cũng khác nhau: Trong xã hội nguyên thủy, 17 người lãnh đạo, quản lý thị tộc, bộ lạc được gọi là tù trưởng, tộc trưởng, thủ lĩnh, được cộng đầu bầu ra một cách tự nguyện, dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau nhằm lãnh đạo những người trong thị tộc, bộ lạc kiếm sống, chống lại thú đữ hay sự tấn công của các thị tộc khác. Đến xã hội chiếm hữu nô lệ, khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp thì người lãnh đạo, quản lý của một quốc gia là giai cấp chủ nô.
Trong xã hội phong kiến, người lãnh đạo, quản lý đất nước là vua, quan, tầng lớp quý tộc. Hiện nay, người lãnh đạo, quản lý là những cá nhân thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhất định của bộ máy nhà nước hay các tổ chức chính trị - xã hội. Họ là những người được tuyên cử hoặc bổ nhiệm, có trách nhiệm và quyền hạn nhất định. Người lãnh đạo có trách nhiệm đề ra phương hướng, chủ trương, quyết định những vấn đề chiến lược của tổ chức, địa phương, đơn vị mình; là những người dan dắt, tổ chức phong trào theo một hướng đi cụ thé.
Người lãnh đạo cũng là người điều hành, chỉ đạo băng quyền hành thông qua các mệnh lệnh, điều chỉnh những quyết định cho phù hợp với điều kiện khách quan. Về phẩm chất người lãnh đạo trước hết phải là người có uy tín đại diện cho số đông, tập thể. Người lãnh đạo, quản lý đóng vai trò đặc biệt quan trọng, liên quan đến sự hưng thịnh hay bại vong của mỗi chế độ, mỗi quốc gia. Nhận thức rõ “nước trị hay loạn cốt ở trăm quan, người giỏi thì nước trị, người kém, dốt thì nước loạn”, Không Tử đã dành nhiều thời gian và công sức dé xây dựng đội ngũ người cầm quyền có đức và tài.
Ước mong của ông là đào tạo ra những người quân tử có chí khí, có đức nhân. Lý tưởng đó đã được Hồ Chí Minh tiếp thu chon lọc, bé sung và phát triển trong van đề xây dựng phẩm chat người lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam. Phong cách lãnh đạo là cách thức mà nhà chính tri thực hiện một số chức năng và đối xử với cấp đưới của mình. Mỗi nhà lãnh đạo sẽ có một phong cách riêng, ảnh hưởng đến mức độ sử dụng quyền lực của các nhà chính trị và mức độ tham gia của từng thành viên trong tổ chức.
“Quyền lực” được hiểu là khả năng gây ảnh hưởng tới các quyết định của cá nhân hoặc tập thể. Chăng hạn như một 18 số người nắm giữ quyền lực có thé buộc người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu đã đưa ra trước đó. Bên cạnh đó, một số nhà lãnh đạo có không có quyền hạn chính thức như thủ lĩnh các băng đảng, họ có thể sử dụng hiệu quả sự cưỡng bức cũng như sức hấp dẫn, và một số chức sắc quân đội có quyền lực mềm là sức hấp dẫn cũng như quyền lực cứng từ địa vị của họ [39, tr. Có nhiều cách khác nhau để tác động đến hành vi của người khác như đe dọa, sử dụng bạo lực, dụ dỗ bang lợi ích vật chất, danh vọng hoặc hap dẫn bằng các giá trị tư tưởng.
Quyền lực được phân thành “quyền lực cứng” và “quyền lực mềm”. Quyền lực cứng thường dựa trên cơ sở sức mạnh về quân sự và kinh tế. Quyền lực mềm được thực hiện thông qua thuyết phục.