đặt vấn đề xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí thành quốc sách; trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chủ trương Bình dân học vụ phải phát triển mạnh mẽ để phục vụ kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công; năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Người chủ trương mau chóng xóa xong nạn mù chữ và phát triển bổ túc văn hóa nhằm nâng cao trình độ văn hóa của cán bộ và nhân dân. Tác giả khái quát quan điểm Hồ Chí Minh về chống nạn thất học, nâng cao dân trí thành năm luận điểm lớn: Thứ nhất, quan điểm về vị trí của công tác chống nạn thất học, nâng cao dân trí trong sự nghiệp cách mạng, trong mối quan hệ giữa ba mặt đấu tranh: diệt giặc đói – giặc dốt – giặc ngoại xâm. Thứ hai, quan điểm về tính chất quần chúng và cách mạng của phong trào chống nạn thất học, nâng cao dân trí. Thứ ba, quan điểm về kết hợp giữa học với hành, kết hợp dạy chữ, làm tính cho đồng bào với dạy thêm về công cuộc kháng chiến, cứu nước, tăng gia sản xuất.
Thứ tư, quan điểm về giáo dục liên tục, học tập suốt đời. Thứ năm, đề cao vị trí, vai trò của người chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh chống nạn thất học, nâng cao dân trí, đó là những “vô danh anh hùng”, “chiến sĩ diệt dốt”. Trong cuốn sách “50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945 – 1995)” [108], ở chương 11, nhóm tác giả khái quát lại những thành tựu lớn và những thiếu sót trên hai mặt quan trọng nhất là về nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội và về xây dựng, phát triển nền giáo dục quốc dân. Những 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đánh giá được rút ra chính từ thực tiễn phát triển giáo dục và nâng cao dân trí của đất nước, có giá trị to lớn đối với sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Tác giả Nguyễn Mạnh Tùng trong luận án “Công cuộc xóa nạn mù chữ và bổ túc văn hóa ở Bắc Bộ (1945 – 1954) [142] đã phân tích cuộc vận động chống nạn thất học ở Việt Nam trước cách mạng Tháng Tám 1945 gắn với hoạt động của Hội truyền bá quốc ngữ, cuộc vận động xóa mù chữ ở Bắc Bộ trong năm đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1946), công cuộc xóa mù chữ và bổ túc văn hóa ở Bắc Bộ từ kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược đến tháng 7/1954. Từ những thành tích đã đạt được của công cuộc xóa nạn mù chữ, bổ túc văn hóa, nâng cao dân trí, tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm cho sự nghiệp nâng cao dân trí ở Việt Nam: thứ nhất, coi nhiệm vụ xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí là một việc cấp bách do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý; thứ hai, coi công tác xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí là một bộ phận hết sức quan trọng trong chiến lược con người, chiến lược xây dựng đất nước giàu mạnh; thứ ba, coi công tác xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí là công việc của toàn dân, toàn xã hội, là quyền lợi, nhu cầu đồng thời là trách nhiệm của mỗi người; thứ tư, tiến hành công tác xóa mù chữ, nâng cao dân trí phải thường xuyên, liên tục, không được phép chủ quan, lơ là; thứ năm, coi công tác xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí là một công việc đặc biệt, đòi hỏi những giáo viên không chỉ có trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ mà phải có sự tận tâm cao. Những số liệu, bảng biểu, những phân tích mà tác giả đưa ra chứng minh giá trị thực tiễn sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao dân trí trong giai đoạn 1945 – 1954 ở miền Bắc. Tác giả Phạm Minh Hạc trong cuốn sách “Tổng kết 10 năm (1990 – 2000) xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học” [48] đã dành hẳn chương 2 để phân tích những thành tựu đạt được trong sự nghiệp 45 năm diệt dốt (1945 – 1990).
Nhìn lại lịch sử 45 năm sự nghiệp xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí, tác giả chọn điểm nhấn là ba chiến dịch diệt dốt do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động theo tư tưởng Hồ Chí Minh: lần thứ nhất (1945 – 1954), lần thứ hai (1956 – 1958), lần thứ ba (1976 – 1977). Ở chiến dịch diệt dốt lần thứ nhất, 8 triệu người đã thoát nạn mù chữ trong hoàn cảnh vừa học vừa lo chống giặc, giữ nước, bước 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đầu xây dựng được trường lớp bổ túc văn hóa tập trung và tại chức, góp phần đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công nông cho kháng chiến. Sau chiến dịch lần thứ hai, vùng đồng bằng và trung du miền Bắc đã căn bản xóa xong mù chữ, 93,4% dân số từ 12 đến 50 tuổi đã biết đọc, viết chữ quốc ngữ. Sau thắng lợi của chiến dịch diệt dốt lần ba, tháng 3/1978, Ban lãnh đạo trung ương thanh toán nạn mù chữ thông báo: chúng ta đã căn bản hoàn thành thanh toán nạn mù chữ trên phạm vi cả nước.
Công tác bổ túc văn hóa (thông qua các trường phổ thông lao động, trường bổ túc công nông,…) ngày càng phát triển, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao dân trí cho người lao động, vào việc bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, đáp ứng đòi hỏi trong từng thời kỳ xây dựng đất nước. Trong cuốn sách “Một tấm lòng với dân trí” [1], các tác giả đã tập hợp tất cả những hồi ức của những người Hà Nội với cụ Hồ Đắc Điềm – “vận động viên số một” của phong trào bổ túc văn hóa Bình dân học vụ. Ông từng là tiến sĩ Luật học, làm việc ở Pari, Trưởng đoàn Luật gia Việt Nam… thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dám từ bỏ tất cả, đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết để làm một công việc hết sức bình thường nhưng đầy chông gai trong 32 năm là: vận động bình dân học vụ, chỉ để hoàn thành một ước vọng giản dị là làm theo lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: chú là người giàu chữ, hãy san sẻ cho người còn nghèo chữ. Cuốn sách không chỉ là bài học về việc vận động trí thức tham gia vào sự nghiệp nâng cao dân trí mà còn là minh chứng minh cho thấy phong trào Bình dân học vụ, sự nghiệp diệt giặc dốt dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một phong trào quần chúng rộng rãi, có sức lan tỏa mạnh mẽ đến mọi tầng lớp nhân dân.
Tập thể tác giả Vũ Quang Vinh, Thái Chí Thanh, Nguyễn Đẩu Quang trong cuốn sách “Bác Hồ với sự nghiệp diệt giặc đói, giặc dốt” [155] đã nêu và phân tích những bài nói, bài viết, những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề diệt giặc dốt, từ lời phát biểu tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp, các bài viết sau cách mạng Tháng Tám… cho đến tác phẩm Di chúc 1965 – 1969. Có thể thấy, quan điểm về “diệt giặc dốt” là một quan điểm xuyên suốt trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn sâu sắc, chỉ đạo sự nghiệp nâng cao dân trí của Việt Nam hiện nay. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tác giả Phạm Minh Hạc trong bài viết “Tiến tới một xã hội học tập – trở thành một dân tộc thông thái” [47] khẳng định: phong trào Bình dân học vụ, phong trào diệt dốt đã đặt nền tảng mở đầu cho sự nghiệp dân trí của nước nhà, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mãi tới năm 1975 mới hoàn thành, xóa bỏ hoàn toàn chế độ nô lệ thực dân, cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng quan điểm với tác giả Phạm Minh Hạc, tác giả Trần Hữu Trù trong bài viết “Bình dân học vụ ngày ấy, bây giờ” [138] đã khái quát lại một cách ngắn gọn những chủ trương của Đảng và Chính phủ về phong trào Bình dân học vụ và chiến dịch diệt dốt cũng như những thành tựu to lớn đạt được từ sau ngày cách mạng Tháng Tám 1945 thành công đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng năm 1975.
Từ đó, rút ra những bài học bổ ích cho sự nghiệp nâng cao dân trí trong giai đoạn mới hiện nay. Tác giả Hoàng Thanh Tú trong bài viết “Đảng lãnh đạo công tác xóa nạn mù chữ trong những năm đầu sau cách mạng Tháng Tám năm 1945” [140] đã khái quát lại bối cảnh lịch sử, chủ trương của Đảng và những thành tựu đạt được trong công tác xóa nạn mù chữ trong một giai đoạn lịch sử hết sức khó khăn của dân tộc, được nhận định là “ngàn cân treo sợi tóc” 1945 – 1946. Những thành công bước đầu của cuộc đấu tranh chống giặc dốt trong những năm đầu sau cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta những bài học kinh nghiệm quý giá: một là, phải luôn thấm nhuần quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” vì sự phát triển của giáo dục có ý nghĩa quyết định đến vận mệnh của dân tộc; hai là, giáo dục phải được coi là sự nghiệp của toàn dân; ba là, giáo dục phải luôn gắn với những nhiệm vụ cụ thể trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tác giả Trần Thị Minh Tuyết trong bài viết “Quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh – Nội dung và đặc điểm” [143] đã tiếp cận vấn đề dân trí như là một bộ phận của quyền con người – quyền được hưởng thụ văn hóa, quyền được hiểu biết, quyền được học hành.
Điều này được cụ thể hóa trong Điều 15 Hiến pháp năm 1946: “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước” và điều 33, 34 của Hiến pháp 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm 1959 do Hồ Chí Minh làm Trưởng ban soạn thảo Hiến pháp: Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền học tập…, có quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa khác.