Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học "Tư tưởng Hồ Chí Minh về 'học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn với gia đình và xã hội'" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Vui, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lương Văn Tám tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành vào tháng 4 năm 2005).

Về mặt thực tiễn, công cuộc đổi mới đất nước và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra yêu cầu cấp bách đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tại thời điểm nghiên cứu, giáo dục Việt Nam đã đạt được những bước phát triển quan trọng về quy mô và phổ cập, song vẫn bộc lộ nhiều hạn chế lớn: chất lượng giáo dục còn thấp; năng lực tư duy khoa học và kỹ năng thực hành của học sinh còn yếu; khả năng ứng dụng kiến thức vào sản xuất và đời sống hạn chế; nhiều sinh viên tốt nghiệp chưa thích ứng kịp với biến đổi công nghệ. Thêm vào đó, mối liên kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội còn lỏng lẻo, nhiều tổ chức và gia đình còn phó mặc hoàn toàn trách nhiệm giáo dục cho nhà trường. Để giải quyết những bất cập này, việc nghiên cứu có hệ thống các luận điểm cốt lõi trong tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh là yêu cầu cần thiết.

Nhiệm vụ của nền giáo dục được tác giả đối chiếu với định hướng tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX: "Đào tạo ra lớp người lao động năng động sáng tạo, có sức khỏe có kiến thức làm chủ nghề nghiệp, nhạy với cái mới có ý thức vươn lên nắm bắt thành tựu mới về khoa học và công nghệ".

Khóa luận xác định mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Mục đích nghiên cứu: Làm rõ các quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về giáo dục; phân tích những nhân tố tác động đến sự hình thành quan điểm; trình bày hệ thống nội dung của phương châm "học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn với gia đình và xã hội"; chỉ ra phương hướng vận dụng quan điểm này vào công cuộc đổi mới giáo dục - đào tạo ở Việt Nam.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Hệ thống hóa các quan điểm cơ bản về giáo dục của Hồ Chí Minh; phân tích nguồn gốc, tiền đề hình thành; luận giải cấu trúc nội dung của ba mối liên hệ giáo dục trụ cột; đánh giá thực trạng giáo dục Việt Nam giai đoạn 1996–2002 và đề xuất phương hướng quán triệt tư tưởng của Người.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là hệ thống quan điểm giáo dục của Hồ Chí Minh, trọng tâm là phương châm kết hợp giữa học với hành, lý luận với thực tiễn, nhà trường với gia đình và xã hội. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các tác phẩm, bài nói, bài viết, sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, cùng số liệu thực tiễn của ngành giáo dục Việt Nam giai đoạn từ 1996 đến năm 2002.

Về tình hình nghiên cứu trước đó, tác giả điểm qua một số công trình như Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên của Đoàn Nam Đàn (NXB Chính trị quốc gia, 2002) và Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên của Văn Tùng (NXB Thanh niên, 1998). Khóa luận chỉ ra rằng các công trình đi trước chủ yếu bàn về giáo dục thanh niên nói chung, trong khi việc đi sâu phân tích trực tiếp, toàn diện cụm phương châm cốt lõi này dưới góc độ lý luận chính trị và phương pháp giáo dục vẫn còn ít công trình chuyên biệt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được triển khai dựa trên hệ thống cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành:

  • Khung lý thuyết và cơ sở lý luận:

    • Chủ nghĩa Mác - Lênin: Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, quan điểm của C. Mác và Ph. Ăng-ghen về giáo dục kết hợp với sản xuất vật chất trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản; luận điểm của V.I. Lênin về vai trò của giáo dục, giáo dục bách khoa toàn diện và kết hợp giáo dục với lao động sản xuất.
    • Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người và giáo dục.
    • Các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 11/11/1979 về cải cách giáo dục; Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII; Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đặt các quan điểm giáo dục trong sự vận động, phát triển của lịch sử cách mạng Việt Nam và mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội.
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích từng nội dung thành phần (học - hành, lý luận - thực tiễn, nhà trường - gia đình - xã hội) và tổng hợp thành hệ thống quan điểm sư phạm hoàn chỉnh.
    • Phương pháp lịch sử - cụ thể: Khảo sát sự hình thành tư tưởng qua từng giai đoạn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, từ thời dạy học ở trường Dục Thanh, hoạt động tại Pháp, Liên Xô, Trung Quốc cho đến giai đoạn lãnh đạo nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
    • Phương pháp logic và đối chiếu: So sánh bản chất giữa nền giáo dục mới với nền giáo dục phong kiến và giáo dục thực dân Pháp.
  • Nguồn dữ liệu:

    • Toàn văn các bài viết, bài phát biểu, thư từ của Hồ Chí Minh (các năm 1945, 1946, 1947, 1956, 1957, 1964, 1968) và các tác phẩm tiêu biểu như Bản án chế độ thực dân Pháp (1921–1925), Sửa đổi lối làm việc (1947), Di chúc (1969).
    • Các văn bản pháp lý lịch sử: Sắc lệnh số 17, 19, 20 do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành ngày 08/9/1945.
    • Báo cáo thống kê, văn kiện của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bài viết trên Tạp chí Giáo dục và Báo Giáo dục và Đào tạo.

Nội dung chính theo từng chương

Khóa luận có độ dài 50 trang, ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính được kết cấu thành 3 chương.

Chương 1: Một số quan điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục

Chương này trình bày có hệ thống 4 quan điểm nền tảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục cách mạng:

  • Quan điểm về mục tiêu giáo dục: Mục tiêu cao nhất của nền giáo dục mới là phục vụ nhân dân, mở mang dân trí, đào tạo những con người phát triển toàn diện, có năng lực làm chủ đất nước. Khác với giáo dục thực dân nhằm đào tạo tay sai (thông ngôn, ký lục, viên chức nhỏ), giáo dục mới hướng tới mục đích "học để làm việc, làm người, làm cán bộ", phụng sự Tổ quốc và nhân loại. Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa "đức" (đạo đức cách mạng) và "tài" (tri thức chuyên môn): đạo đức là cái gốc của người cách mạng, nhưng phải đi liền với tài năng; có tài mà không có đức sẽ gây hại cho xã hội, có đức mà không có tài thì không làm được việc có ích.
  • Quan điểm về giáo dục toàn diện: Giáo dục toàn diện là sự phát triển đồng bộ cả về văn hóa, chính trị, khoa học kỹ thuật và bốn mặt: đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục. Đức dục giúp hình thành lòng yêu nước, yêu nhân dân; trí dục cung cấp tri thức khoa học và năng lực tư duy; thể dục rèn luyện sức khỏe cường tráng; mỹ dục giúp phân biệt cái đẹp và cái xấu. Chính trị giữ vai trò định hướng tư tưởng, văn hóa tạo nền tảng tiếp thu kỹ thuật hiện đại.
  • Quan điểm về giáo dục toàn dân: Giáo dục là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân, xuất phát từ chân lý "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Người kiên trì mục tiêu xây dựng một xã hội học tập, đáp ứng ham muốn tột bậc: "đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đã xếp "giặc dốt" ngang hàng với "giặc đói" và "giặc ngoại xâm", phát động chiến dịch chống mù chữ thông qua hệ thống Nha Bình dân học vụ (ban hành các Sắc lệnh số 17, 19, 20 ngày 08/9/1945).
  • Quan điểm về trách nhiệm của người thầy và người làm công tác giáo dục: Hồ Chí Minh khẳng định "nếu không có thầy thì không có giáo dục", tôn vinh người thầy giáo tốt là "người vẻ vang nhất", là "người chiến sĩ vô danh", "người anh hùng vô danh". Người thầy phải hội tụ đầy đủ ba yếu tố: phẩm chất đạo đức (lòng yêu người, yêu nghề, tác phong mẫu mực "muốn cải tạo xã hội phải cải tạo mình"), năng lực kiến thức (sâu rộng về chuyên môn, am hiểu xã hội, không ngừng tự học) và phương pháp sư phạm (dạy học gợi mở, phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh, chống cách dạy nhồi sọ, học vẹt).

Chương 2: Nội dung cơ bản của quan điểm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn với gia đình và xã hội

Chương 2 tập trung phân tích nguồn gốc hình thành và luận giải nội dung 3 trụ cột phương châm giáo dục:

  • Những nhân tố tác động đến việc hình thành quan điểm:
    1. Phê phán nền giáo dục cũ: Tác giả chỉ ra Hồ Chí Minh đã lên án sâu sắc nền giáo dục phong kiến từ chương, kinh viện, xa rời sản xuất, chạy theo khoa cử hư danh ("Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao"). Đồng thời, Người vạch trần bản chất phản động của nền giáo dục thực dân Pháp qua tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (Chương IX - Chính sách ngu dân), nơi thực dân mở 1.500 đại lý bán rượu và thuốc phiện nhưng trong 1.000 làng chỉ có vỏn vẹn 10 trường học, thiết kế chương trình học kéo dài (13 năm đối với người bản xứ so với 11 năm của học sinh tại Pháp) để hạn chế người dân tiếp cận học vấn.
    2. Truyền thống giáo dục gia đình và dân tộc: Chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tấm gương hiếu học, khí phách thanh cao của thân phụ - cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, sự đôn hậu của thân mẫu - bà Hoàng Thị Loan, cùng truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của dân tộc và tư tưởng tiến bộ của các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu.
    3. Tiếp thu tinh hoa nhân loại và chủ nghĩa Mác - Lênin: Tiếp thu có chọn lọc tư tưởng giáo dục phương Đông (Khổng Tử về học gắn với hành) và phương Tây (Rousseau, Montesquieu); vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về nguyên tắc giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, cùng sự hỗ trợ của nhà giáo dục N. Krupskaya trong thời gian Người hoạt động tại Liên Xô (1923).
  • Nội dung cơ bản của ba phương châm:
    • Học đi đôi với hành: Học là quá trình nhận thức tích lũy tri thức; hành là việc vận dụng tri thức vào thực tiễn đời sống và sản xuất. Học mà không hành là học vô ích, hành mà không học thì làm việc không trôi chảy. Hành vừa là mục đích, vừa là phương thức kiểm tra và củng cố tri thức.
    • Lý luận gắn liền với thực tiễn: Lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn lịch sử; thực tiễn là cơ sở, động lực và tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Lý luận mà không liên hệ thực tiễn là lý luận suông; thực tiễn mà không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng". Sự tách rời giữa lý luận và thực tiễn sẽ dẫn đến hai căn bệnh nguy hiểm: bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm.
    • Nhà trường gắn với gia đình và xã hội: Giáo dục thế hệ trẻ là sự nghiệp của toàn xã hội. Gia đình là môi trường đầu tiên hình thành nhân cách; nhà trường là thiết chế chuyên biệt truyền thụ tri thức khoa học và lý tưởng; xã hội là môi trường rộng lớn kiểm nghiệm, rèn luyện nhân cách và kỹ năng. Cả ba môi trường phải tạo thành hợp lực đồng hướng, nếu tách rời hoặc triệt tiêu lẫn nhau thì giáo dục không thể đạt hiệu quả toàn diện.

Chương 3: Vận dụng quan điểm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn với gia đình và xã hội trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay ở nước ta

Chương 3 đối chiếu hệ thống tư tưởng trên với thực trạng và định hướng đổi mới giáo dục:

  • Tình hình giáo dục - đào tạo nước ta (giai đoạn 1996–2002): Khóa luận đánh giá toàn diện các thành tựu phát triển hệ thống trường lớp, phổ cập tiểu học, xóa mù chữ và bước đầu phổ cập trung học cơ sở; đồng thời phân tích các yếu kém về chất lượng đào tạo, tình trạng học chay, học vẹt, sự mất cân đối giữa dạy chữ và dạy người, sự phối hợp thiếu chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - đoàn thể xã hội.
  • Định hướng quán triệt quan điểm Hồ Chí Minh:
    • Đổi mới nội dung, chương trình và sách giáo khoa theo hướng tinh giản, thiết thực, tăng cường thời lượng thí nghiệm, thực hành và liên hệ thực tế.
    • Đổi mới phương pháp dạy và học: Chuyển từ truyền thụ thụ động sang phát huy tính chủ động, năng lực tư duy độc lập và sáng tạo của người học.
    • Chuẩn hóa và nâng cao toàn diện chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục về cả phẩm chất chính trị, đạo đức và chuyên môn nghiệp vụ.
    • Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức đoàn thể xã hội nhằm tạo môi trường giáo dục lành mạnh.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu và số liệu thực chứng

Khóa luận đã tổng hợp các dữ liệu lịch sử và số liệu thống kê giáo dục quan trọng phản ánh tiến trình thực hiện tư tưởng giáo dục toàn dân và đổi mới giáo dục:

Mốc thời gian / Văn bản Nội dung / Chỉ số thực tế được trích xuất từ khóa luận
08/9/1945 (Sắc lệnh 17, 19, 20) Thành lập Nha Bình dân học vụ; mở lớp học buổi tối cho nông dân, thợ thuyền; quy định học chữ quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền; trong hạn 1 năm toàn thể dân chúng trên 8 tuổi phải biết đọc, biết viết.
02/9/1947 (Sau 2 năm Bình dân học vụ) Hơn 4 triệu đồng bào nam, nữ đã biết đọc, biết viết; nhiều làng xã hoàn thành xóa mù chữ.
Năm 2000 61/61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được công nhận đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học (năm 1996 mới chỉ có 16 tỉnh, thành đạt chuẩn).
Năm 2000 94% dân số trong độ tuổi 15–35 biết chữ; 90% trẻ em 14 tuổi tốt nghiệp tiểu học.
Tháng 01/2002 10 tỉnh, thành phố được công nhận đạt chuẩn phổ cập THCS: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên.
Năm học 2001–2002 Tổng số học sinh, sinh viên cả nước đến trường đạt khoảng 23 triệu người, tăng khoảng 24% so với năm học 1996–1997.

Đóng góp của khóa luận

  • Đóng góp khoa học: Nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống, logic cấu trúc lý luận của phương châm "học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn với gia đình và xã hội" trong tổng thể tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh; luận giải rõ mối quan hệ nội tại giữa ba mệnh đề này dưới góc độ triết học Mác - Lênin.
  • Đóng góp thực tiễn: Khẳng định giá trị thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đổi mới căn bản giáo dục đào tạo; cung cấp giải pháp sư phạm cho việc giảng dạy của giáo viên và học tập của sinh viên ngành Giáo dục Chính trị.
  • Giá trị tài liệu: Đóng góp nguồn tư liệu tham khảo phục vụ học tập, nghiên cứu cho sinh viên các khóa sau chuyên ngành Giáo dục Chính trị và Sư phạm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp phân tích văn bản tư tưởng và tổng kết lý luận chính trị; dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê dừng lại ở mốc thời gian giai đoạn 2000–2002; chưa tiến hành các cuộc điều tra khảo sát xã hội học định lượng diện rộng về mức độ phối hợp giữa ba môi trường (nhà trường - gia đình - xã hội) tại các cơ sở giáo dục cụ thể.
  • Hướng phát triển: Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm đánh giá mô hình liên kết ba môi trường giáo dục tại từng cấp học (mầm non, phổ thông, đại học); khảo sát sự chuyển biến trong phương pháp giảng dạy tích hợp lý luận với thực hành theo các chương trình đổi mới giáo dục tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo đối với:

  • Đối tượng sử dụng: Giảng viên, sinh viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Triết học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng và Giáo dục học tại các trường sư phạm và cơ sở đào tạo lý luận chính trị.
  • Nội dung tham khảo trọng tâm:
    • Chương 1 và Chương 2 cung cấp hệ thống luận cứ, trích dẫn chuẩn xác từ các tác phẩm gốc của Hồ Chí Minh về mục tiêu giáo dục, đạo đức người thầy, phê phán giáo dục phong kiến và thực dân.
    • Các luận điểm phân tích mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề về phương pháp luận nhận thức và phương pháp sư phạm.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận luận giải mối quan hệ giữa "đức" và "tài" trong tư tưởng Hồ Chí Minh như thế nào?
Khóa luận chỉ rõ Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng, là gốc của người cách mạng, còn tri thức (tài) là phương tiện thực hiện nhiệm vụ. Người khẳng định dạy và học phải chú trọng cả hai yếu tố: có tài mà không có đức thì trở nên nguy hại cho xã hội, có đức mà không có tài thì không làm được việc gì có ích; do đó sản phẩm của giáo dục phải là những con người "vừa hồng vừa chuyên".

2. Chính sách ngu dân của thực dân Pháp được tác giả trích dẫn từ tác phẩm nào của Hồ Chí Minh?
Tác giả trích dẫn từ tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (viết trong giai đoạn 1921–1925), cụ thể là Chương IX mang tên "Chính sách ngu dân", trong đó nêu rõ số liệu thực dân mở 1.500 đại lý bán rượu và thuốc phiện nhưng chỉ lập 10 trường học cho 1.000 làng bản xứ, áp đặt chế độ học tập bất bình đẳng nhằm đầu độc và kìm hãm nhân cách thế hệ trẻ.

3. Ba sắc lệnh đầu tiên về giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được ban hành vào thời gian nào và có nội dung gì?
Ngày 08/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành ba sắc lệnh: Sắc lệnh số 17 về việc thành lập Nha Bình dân học vụ để trông nom việc học của dân chúng; Sắc lệnh số 19 về việc thành lập các lớp học bình dân buổi tối cho nhân dân, thợ thuyền; Sắc lệnh số 20 quy định việc học chữ quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền cho mọi người dân, yêu cầu trong thời hạn 1 năm toàn thể dân chúng trên 8 tuổi phải biết đọc, biết viết.

4. Khái niệm "lý luận" và "thực tiễn" được định nghĩa như thế nào trong khóa luận dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh?
Theo văn bản, lý luận được định nghĩa là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp tri thức về tự nhiên và xã hội, đem thực tế trong lịch sử và kinh nghiệm xem xét kỹ lưỡng để thành kết luận rồi chứng minh lại với thực tế. Thực tiễn là sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất và hoạt động của con người, là những vấn đề, mâu thuẫn cụ thể mà cách mạng đặt ra đòi hỏi cán bộ và nhân dân phải giải quyết.

5. Các mốc thành tựu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục của Việt Nam đến năm 2000 và năm 2002 được ghi nhận với những con số cụ thể nào?
Đến năm 2000, cả 61/61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học (tăng từ 16 tỉnh năm 1996); 94% dân số từ 15–35 tuổi biết chữ; 90% trẻ 14 tuổi tốt nghiệp tiểu học. Đến tháng 01/2002, có 10 tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Đầu năm học 2001–2002, cả nước có khoảng 23 triệu học sinh, sinh viên đến trường, tăng 24% so với năm học 1996–1997.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Vui đã hệ thống hóa toàn diện các quan điểm nền tảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mục tiêu, tính chất toàn diện, tính chất toàn dân và vai trò của nhà giáo trong sự nghiệp giáo dục cách mạng. Công trình làm sáng tỏ bản chất khoa học và mối liên hệ hữu cơ của phương châm "học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn với gia đình và xã hội", đồng thời phân tích rõ các tiền đề lịch sử, truyền thống và lý luận Mác - Lênin hình thành nên tư tưởng này. Khóa luận đối chiếu tư tưởng Hồ Chí Minh với thực trạng giáo dục Việt Nam giai đoạn đầu những năm 2000, khẳng định giá trị định hướng bền vững của di sản tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh đối với công cuộc đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay.