Chương 1, Điều thứ nhất của bản Hiến pháp năm 1946 có viết: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” 8. Nhằm phát huy tối đa tính dân chủ của người dân, đặc biệt là dân chủ đại diện mà Điều 20 có viết: “Nhân dân có quyền bãi nhiệm các đại biểu mình đã bầu ra” 9. “Nhân dân có quyền phúc huyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia” 10(Điều 21).
Đến Hiến pháp năm 1959, một “Nhà nước của dân” tiếp tục được khẳng định tại Điều 4: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”11. Nhân dân có quyền làm chủ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bầu ra Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thể hiện quyền tối cao của 7 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.
8 Hiếp pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 1946 – 1959 – 1980 – 1992 – 2013 ) , Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, 2014, tr. 9 Hiếp pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 1946 – 1959 – 1980 – 1992 – 2013 ) , Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.
10 Hiếp pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 1946 – 1959 – 1980 – 1992 – 2013 ) , Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, 2014, tr. 11 Hiếp pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (năm 1946 – 1959 – 1980 – 1992 – 2013 ) , Nxb. Lao động Xã hội, Hà Nội, 2014, tr.
Nhà nước của dân là xác định vị thế của dân “dân là chủ” và xác định vị thế của dân “dân làm chủ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở, dân bầu mình ra để làm việc cho dân chứ không phải để cậy thế với dân “vác mặt làm quan cách mạng, đè đầu cưỡi cổ dân”. Trong Nhà nước của dân địa vị cao nhất là dân, quyền lực của nhân dân được đặt ở vị trí tối thượng. Giá trị lớn nhất của thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là từ đây quyền lực tập trung toàn bộ vào nhân dân lao động, trong đó là giai cấp công nhân và nông dân chứ không phải nằm trong tay giai cấp phong kiến, vua và quan lại hay bọn tư sản.
Thứ hai, “Nhà nước do dân” theo Hồ Chí Minh là một Nhà nước do chính nhân dân bầu ra: “Chính quyền từ xã đến chính phủ đều do dân cử ra”12 Nhân dân có quyền đóng góp sức người, sức của, trí tuệ để xây dựng Nhà nước. Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh: “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó trăm lần dân liệu cũng xong”13. “Nước lấy dân làm gốc.
Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” 14. Nhà nước do dân tức là dân xây dựng Nhà nước, góp ý kiến phê bình Chính phủ để Chính phủ phục vụ dân tốt hơn, tham gia quản lý Nhà nước nhu bầu ra Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước; Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng Chính phủ. Hội đồng Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất, thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội và chấp hành pháp luật.
Mọi công việc của bộ máy Nhà nước trong quản lý, điều hành xã hội đều thực hiện ý chí của dân thông qua Quốc hội do dân bầu ra. Theo Hồ Chí Minh một Nhà nước dân chủ là “Nhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân”15. Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công – nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”16. Có thể khẳng định Nhà nước dân chủ theo Hồ Chí Minh được xây dựng theo các nguyên tắc phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà nước chuyên chính vô sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước dân chủ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nói chung và ở Việt Nam đặt dưới sự 12 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 13 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.
14 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 15 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình trung cấp lý luận chính trị Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, tr. 16 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cơ sở xã hội của Nhà nước là khối đại đoàn kết dân tộc, mà nồng cốt chính là liên minh công – nông – trí thức. Nhà nước phải được tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc thống nhất quyền lực Nhà nước nhưng khi tổ chức thực hiện phải có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp.
Do bản chất của chế độ, của Nhà nước ta là dân chủ,nên Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng việc nhân dân tham gia vào quản lý Nhà nước. “Thực chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là sự tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi của nhân dân lao động vào quản lý công việc của nhà nước và của xã hội”17. Người cho rằng: “Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được”18.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, Nhà nước phải dựa vào lực lượng nhân dân, bảo đảm phương châm “đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết” 19. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự đặt ra câu hỏi cho mình: “Chính phủ Cộng hòa Dân chủ là gì?” và Người tự trả lời: “Là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. “Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi”20.
Người viết: “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân; nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình”21. Thứ ba, “Nhà nước vì dân” theo Hồ Chí Minh là một Nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính Trong nhà nước đó, cán bộ từ chủ tịch trở xuống đều là công bộc của dân. Mọi hoạt động của chính quyền phải nhằm mục tiêu mang lại quyền lợi cho nhân dân và lấy con người làm mục tiêu phấn đấu lâu dài. Trách nhiệm của Nhà nước là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của nhân dân, mà trước hết là: “Làm cho dân có ăn 17 Hoàng Văn Hảo: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới – sự hình thành và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.
18 Hồ Chí Minh: Bàn về nhà nước và pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 19 Hồ Chí Minh: Bàn về nhà nước và pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.
20 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 21 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.
Làm cho dân có mặc Làm cho dân có chỗ ở Làm cho dân có học hành”22. “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”23. Hồ Chí Minh chú ý mối quan hệ giữa người chủ nhà nước là nhân dân với cán bộ nhà nước là công bộc của dân, do dân bầu ra, được nhân dân uỷ quyền. Là người phục vụ, nhưng cán bộ nhà nước đồng thời là người lãnh đạo, hướng dẫn nhân dân.
“Nếu không có nhân dân thì chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường”. Cán bộ là đày tớ của nhân dân là phải trung thành, tận tuỵ, cần, kiệm, liêm, chính.; là người lãnh đạo thì phải có trí tuệ hơn người, sáng suốt, nhìn xa trông rộng, gần gũi với dân, trọng dụng hiền tài. Cán bộ phải vừa có đức vừa có tài, vừa hiền lại vừa minh.
Hồ Chí Minh là người Chủ tịch suốt đời vì dân. Một Nhà nước vì dân theo Tư tưởng Hồ Chí Minh bên cạnh việc đảm bảo mọi điều kiện cho việc phục vụ lợi ích của nhân dân thì có nhiệm vụ “phát triển quyền dân chủ và các sinh hoạt chính trị của nhân dân” 24. Người cho rằng: “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân để phát huy tính tích cực và sức sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc Nhà nước, ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà…”25. Quan niệm của Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền Quyền dân chủ của nhân dân chủ yếu được thực hiện thông qua Nhà nước và hệ thống pháp luật của Nhà nước.
Quyền làm chủ đó được thể chế hóa bằng pháp luật. Để đảm bảo dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống thì cần phải xây dựng một Nhà nước pháp quyền. Những đặc trưng quan trọng của Nhà nước pháp quyền là: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về tay nhân dân; Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước là chuẩn mực cao nhất cho hành vi của mọi người trong xã hội kể cả người đứng đầu Nhà nước; nội dung của Hiến pháp và pháp luật phải ghi nhận đầy đủ quyền tự do dân chủ của nhân dân. Từ góc độ 22 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, NXB.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 23 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 24 Phạm Hồng Chương: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb.
Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2004, tr. 25 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.