mở đầu cho truyền thống tự học vốn có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đào tạo nhân tài, trí thức trong xã hội truyền thống. Mục tiêu giáo dục của Khổng Tử là đào tạo, bồi dưỡng người hiền tài. Do đó, ông chủ trương “Học nhi ưu tắc chi” (Học mà giỏi tất sẽ được sử dụng). Về phương pháp giáo dục, Khổng Tử thực hiện “Nhân tài thi giáo”, tùy theo khả năng của mỗi người mà thực hành giáo dục, để họ có thể phát huy hết năng lực và sở trường.
Bên cạnh con đường giáo dục và khoa cử, Nho giáo cũng rất chú trọng tới hình thức tiến cử và tự tiến cử người tài ra phò vua giúp nước. Thứ ba, theo Nho giáo cần có chính sách đãi ngộ nhân tài như thưởng phạt công minh, quan tâm đến cuộc sống của họ. Thưởng phạt không được căn cứ vào tình cảm cá nhân, mà phải dựa vào kết quả công việc của nhân tài. Nhìn chung, tư tưởng cơ bản của Nho giáo trong việc trọng dụng nhân tài là phải biết xét người, nhìn nhận đúng người, giao đúng công việc và không ngừng bồi dưỡng, đào tạo giúp họ làm tốt việc với sự thưởng phạt công minh.
Đây cũng chính là những điểm tiến bộ mà Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong xây dựng tư tưởng về trí thức. Bên cạnh mặt giá trị, trong tư tưởng Nho giáo về giáo dục cũng có những hạn chế, trong đó nổi bật nhất là quá đề cao tri thức xã hội, tri thức nhân văn, mà coi nhẹ tri thức tự nhiên, tri thức kỹ thuật. Nếu chỉ dừng lại ở mục tiêu đào tạo 20 z những người làm chính trị, quản lý, ở mục tiêu giáo dục đạo đức, văn hoá, thì mặt hạn chế của Nho giáo không thể hiện rõ, nhưng khi đứng trước nhu cầu đào tạo đội ngũ trí thức, đội ngũ những người lao động trí tuệ phục vụ một cách toàn diện các nhu cầu của xã hội thì hạn chế nói trên sẽ bộc lộ rõ. Hồ Chí Minh thấu hiểu sâu sắc cả ưu điểm và hạn chế của Nho giáo, chính vì thế, Người đặc biệt coi trọng tri thức khoa học xã hội, tri thức khoa học nhân văn, nhưng đồng thời cũng không hề coi nhẹ tri thức khoa học tự nhiên, tri thức khoa học kỹ thuật.
Đây chính là biểu hiện của việc Hồ Chí Minh vừa kế thừa, vừa vượt bỏ Nho giáo truyền thống. Trong hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh từng bước tìm hiểu và nghiên cứu các giá trị văn hóa phương Tây. Người đã tìm ra những điểm tích cực, tiến bộ của văn hóa phương Tây để làm giàu vốn tri thức của mình. Tự do, bình đẳng và bác ái là khẩu hiệu mà thực dân Pháp tuyên truyền ở nước ta đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của Hồ Chí Minh.
Nhưng giá trị thực sự của khẩu hiệu đó chỉ được cảm nhận một cách đúng đắn nhất khi sang phương Tây. Người nhận thức sâu sắc, dân chủ và tự do là một trong những điều kiện để trí thức có thể phát huy hết khả năng của mình. Vì vậy, trong quá trình kháng chiến và xây dựng chế độ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm này trong xây dựng cũng như sử dụng đội ngũ trí thức. Khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh coi đó là “cẩm nang thần kỳ”, nếu vận dụng sáng tạo vào thực tiễn sẽ giải quyết thành công mọi việc.
Trong di sản tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã tiếp thu quan điểm tiến bộ về xây dựng đội ngũ trí thức và chính sách sử dụng trí thức. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: cách mạng là sự nghiệp vĩ đại của quần chúng nhân dân và nhân dân chính là người làm ra lịch sử. Tuy đề cao vai trò của quần chúng nhân dân nói chung, các nhà kinh điển cũng nhấn mạnh tới vai trò của các vĩ nhân, của bộ phận “tinh hoa”, bởi: mỗi xã hội, mỗi thời đại cần có những vĩ nhân của mình, nếu không có những vĩ nhân như vậy thì nó sẽ phải tạo ra. Đó chính là những nhân tài có hiểu biết sâu rộng, có năng lực chuyên môn, khả 21 z năng dự báo và hoạt động thực tiễn phong phú.
Do đó, một mặt chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân với tư cách là lực lượng tiên phong, đại diện cho phương thức sản xuất mới; mặt khác luôn khẳng định sức mạnh của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức, coi trí thức là một bộ phận quan trọng của cách mạng. Vì vậy, cần phải khai thác hết tiềm năng trí tuệ, sức sáng tạo của trí thức để đưa cách mạng đến thắng lợi. Mác đã đưa ra quan niệm của mình về trí thức: Trí thức là những người có đủ tri thức để quan tâm và có chính kiến riêng đối với các vấn đề của xã hội, nên họ phải là những người phê bình không nhân nhượng những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính quyền hoặc trước xung đột với chính quyền, bất cứ chính quyền nào. Mác, trí thức trước hết phải là người có trình độ chuyên môn, có kiến thức sâu sắc, và có vai trò phản biện đối với những vấn đề đang nảy sinh trong lòng xã hội đương thời.
Lịch sử nhân loại đã ghi nhận những cống hiến to lớn của trí thức đối với thời đại. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra vai trò quan trọng của trí thức trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi đó là một cuộc cách mạng triệt để diễn ra trên mọi mặt của đời sống nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp. Xã hội đó phát triển dựa trên những thành tựu và tri thức khoa học hiện đại, nên nhất thiết phải có đội ngũ trí thức khoa học.
Là lãnh tụ của phong trào cách mạng thế giới, Lênin đã nhận thức sâu sắc về vai trò của trí thức, và là người giải quyết thành công mối quan hệ giữa trí thức với các giai cấp khác trong xã hội. Lênin đã chỉ rõ: yếu tố quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản đó là năng suất lao động. Vì vậy, cần phải ứng dụng và phát minh những thành tựu khoa học kĩ thuật đưa vào quá trình sản xuất. Do đó, Lênin đề cao vai trò của các nhà khoa học, chuyên gia giỏi: “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật và có kinh nghiệm, thì không thể chuyển lên chủ nghĩa xã hội được, vì chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một bước tiến có ý thức và có tính quần chúng để đi tới một năng suất lao động cao hơn năng suất lao 22 z động của chủ nghĩa tư bản” (72, tr.
Trí thức chính là một trong những yếu tố đảm bảo cho thắng lợi của chủ nghĩa tư bản, với năng lực tư duy và khả năng sáng tạo của mình, họ sẽ đóng góp tích cưc vào quá trình xây dựng xã hội mới. Xuất phát từ vai trò của trí thức, Lênin vạch rõ giai cấp công nhân phải liên lạc và thiết lập được mối quan hệ gắn bó với trí thức, lôi kéo trí thức tham gia vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội để trí thức phát huy hết tài năng của mình, và tạo ra sức mạnh to lớn: “Trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai cấp vô sản và giới kỹ thuật, không một thế lực đen tối nào đứng vững được” (73, tr. Đồng thời, Lênin cũng chủ trương xây dựng đội ngũ trí thức cách mạng, trí thức của giai cấp công nhân (bao gồm cải tạo trí thức cũ và xây dựng trí thức mới). Công tác cải tạo trí thức là phù hợp với thời kỳ quá độ, nhằm kế thừa những thành tựu của chủ nghĩa tư bản để lại.
Người cũng nhấn mạnh, giai cấp công nhân phải thực sự tôn trọng trí thức, học tập trí thức để nâng cao trình độ của mình. Để công tác cải tạo trí thức do chế độ cũ để lại thực sự hiệu quả, cũng cần tăng cường công tác giáo dục để họ chuyển sang lập trường cách mạng xã hội chủ nghĩa, trung thành với cách mạng. Lênin khẳng định, phương thức lao động của trí thức là lao động trí tuệ cá nhân, sản phẩm trực tiếp của họ là những tri thức khoa học sáng tạo, những giá trị tinh thần. Do đó, cần phải tạo mọi điều kiện cho họ phát huy hết tài năng của mình.
Để làm được điều đó, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo phải có tầm nhìn trí tuệ: “người lãnh đạo cơ quan nhà nước cần phải có ở mức độ cao, khả năng lôi cuốn mọi người và có đủ trình độ kiến thức khoa học kỹ thuật vững vàng để kiểm tra công tác của họ. Đó là điều cơ bản. Không như thế thì công tác không thể tiến hành đúng được” (75, tr. Chỉ khi có kiến thức, trình độ thì người cán bộ mới có thể lãnh đạo và kiểm tra được hoạt động của trí thức, hướng họ phục vụ cho cách mạng.
Và muốn phát huy hết vai trò của trí thức cũng cần có chế độ đãi ngộ hợp lý. Tóm lại, trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trí thức luôn là một bộ phận quan trọng. Nắm vững phẩm chất, đặc 23 z điểm, nguyện vọng của trí thức là cơ sở để cải tạo, xây dựng và phát huy hết năng lực của họ. Ở đây, có một điều cần nhấn mạnh rằng, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của trí thức, của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo, kế thừa và vận dụng các quan điểm ấy vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Tuy nhiên, nếu đi sâu tìm hiểu tư tưởng cũng như ứng xử thực tế của Hồ Chí Minh đối với trí thức thì có thể thấy rõ rằng, cách nhìn nhận, cách đánh giá, cách sử dụng trí thức của Hồ Chí Minh mang tính nhân ái, khoan dung, độ lượng, vượt khỏi định kiến giai cấp siêu hình, máy móc, cực đoan mà không ít lãnh tụ cộng sản đương thời mắc phải. Điều đó cho thấy, Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu, vận dụng, mà còn bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về trí thức và vai trò của đội ngũ trí thức đối với sự nghiệp cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo.