phần mở đầu, kết luận, danh m c tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài: gồm 3 chương, 6 tiết 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. B I CẢNH XÃ HỘI NH T BẢN VÀ VIỆT NAM CU I TH KỶ XIX Đ U TH KỶ XX 1. Nhật ản cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 1. Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Nhật Bản là một quần đảo hình vòng cung hẹp, dài khoảng 3000km, nằm ở cực đông l c địa châu Á, đồi núi chiếm 70% diện tích cả nước.
Nhật Bản là đất nước nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội thường xuyên xảy ra động đất sóng thần. Những điều kiện tự nhiên trên đã ảnh hưởng quan trọng đến lịch sử hình thành và phát triển của đất nước Nhật Bản. Về kinh tế: Đất nước Nhật Bản dưới sự cai trị của chính quyền Tokugawa đã tạo nên những điều kiện hết sức thuận lợi cho các ngành kinh tế phát triển. Sau một thời gian mở cửa đẩy mạnh quan hệ với nước ngoài đến năm 1630, ch nh quyền Tokugawa đã thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng chỉ cho phép một số lượng hạn chế tàu buôn Hà Lan, Trung Quốc.được tiếp t c đến giao thương.
Nhờ vào ch nh sách đó mà Nhật Bản đã thoát khỏi sự lệ thuộc vào hệ thống thương mại quốc tế và từng bước vươn lên thành một nước tự chủ về kinh tế. Nhật Bản là một nước châu Á, cơ sở kinh tế chủ yếu dựa vào sản phẩm nông nghiệp tự nhiên nên chính quyền Mạc phủ luôn coi trọng vai trò của ngành kinh tế này và thực thi nhiều chính sách tích cực nhằm khuyến khích ngành kinh tế nông nghiệp phát triển. Tuy nhiên, trong nông nghiệp vẫn dựa trên quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu. Địa chủ bóc lột nhân dân lao động rất nặng nề chiếm tới 50% số thu hoa lợi.
Tình trạng mất m a, đói kém liên tiếp xảy ra làm cho lớp nông dân nghèo bị bần c ng hóa phải bán đất cho địa chủ hoặc thương nhân và trở thành nông dân tự do. Đối với kinh tế công thương nghiệp cũng có bước phát triển đáng kể. ác thành thị, hải cảng, kinh tế hàng hóa phát triển, công trường thủ công xuất hiện ngày càng nhiều khiến nền kinh tế hàng hóa của Nhật ản phát 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển mạnh. Đến cuối thời Edo, các ngành thủ công nghiệp thu hút 20% lực lượng lao động trên toàn quốc.
Nhờ sự chuyên môn hóa và sự đầu tư máy móc kỹ thuật, một số mặt hàng thủ công của Nhật ản lúc đó đã đạt đến trình độ tinh xảo nổi tiếng thế giới như: tơ l a, luyện kim, đồ gốm sứ, sơn mài. Việc hình thành một đội ngũ thương nhân chuyên nghiệp là một nhân tố quan trọng khác nữa thúc đẩy kinh tế phát triển. Thương nhân bao gồm rất nhiều loại. Loại có thế lực lớn nhất (Tonya) là những người kinh doanh lớn có quyền lợi gắn chặt với giới ch nh trị.
Họ thường mua hàng từ các v ng sản xuất, công xưởng rồi bán lại cho các thương nhân trung gian (Nakagai) và từ đó lại phân chia cho những người bán lẻ, bán dạo. ên cạnh tầng lớp Nakagai c n có một loại thương nhân đặc biệt khác nữa là Nakadachi - Nin. Họ là những thương nhân chuyên mua đi bán lại giữa các thương nhân khác với nhau. ác đại doanh thương như gia đình itsui, Konoike, odoya.đã thâu tóm nhiều lĩnh vực kinh tế ở Nhật ản thời bấy giờ.
Sự phát triển của các thành thị với tư cách là các trung tâm kinh tế là nhân tố quan trọng tạo nên diện mạo mới trong xã hội Nhật ản. Vào thời Edo, Nhật ản có tới 200 thành thị và cảng thị. Trong các thành thị đó, tầng lớp thương nhân ngày càng đóng vai tr quan trọng trong đời sống kinh tế. Thông qua các hoạt động kinh doanh, nhiều thương nhân đã t ch lũy được nguồn của cải lớn và trở thành một lực lượng có vị thế vững chắc trong xã hội.
Đây là những mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh chóng. Thời inh Trị, ch nh quyền tiến hành những cải cách kinh tế, khuyến kh ch phát triển sản xuất. Những cơ chế kinh tế mang t nh chất phong kiến bị hủy bỏ nhắm thiết lập một nền kinh tế hiện đại. Để hỗ trợ cho việc xây dựng một nền công nghiệp hiện đại, hệ thống giao thông và thông tin liên lạc được mở mang hoặc xây dựng mới.
Năm 1869, Nhật ản 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khánh thành hệ thống điện t n Tokyo - okohama. Ngành bưu ch nh cũng nhanh chóng được tổ chức để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại. Năm 1871, Nhật ản thiết lập đường bưu ch nh giữa Tokyo và Osaka. Vào một năm sau, hệ thống bưu ch nh đã được áp d ng trên quy mô toàn quốc.
Giá tem cũng được thống nhất giữa các v ng kể từ năm 1885. Về giao thông, đường xe lửa đầu tiên của Nhật ản nối Tokyo với Yokohama khánh thành vào năm 1872 do dự giúp đỡ của các chuyên gia Anh. Vào năm 1874, tuyến xe lửa thứ hai từ Osaka đi obe đã hoàn thành. Năm 1889, toàn bộ tuyến đường Tokaido nổi tiếng nối liền Tokyo với obe được đưa vào sử d ng.
Đường biển cũng được chú trọng đầu tư. Tổng cộng đến năm 1893, Nhật ản đã có hơn 2.000 dặm đường xe lửa, 4.000 dặm đường điện thoại và 100.000 tấn trọng tải tàu biển chạy bằng hơi nước. Hàng ngàn x nghiệp công nghiệp có từ 10 đến 20 công nhân trở lên. ác ngành công nghiệp chè, thuốc lá, đồ sứ và đặc biệt ngành dệt là ngành phát triển với tốc độ diễn ra nhanh chóng.
ng với sự phát triển của các ngành kinh tế nói chung, ch nh phủ đã tổ chức lại hệ thống tài ch nh, thiếp lập chế độ tiền tệ hiện đại. Ngân sách lúc đầu ch nh phủ chủ yếu tiếp thu từ nguồn thuế đất theo chế độ tô thuế trước đây của ạc phủ. Năm 1871, ch nh phủ ban hành chế độ tiền tệ mới của Nhật ản và thiết lập hệ thống ngân hàng quốc gia theo mô hình của Hoa ỳ (1872). Năm 1873, Ngân hàng quốc gia đầu tiên được thành lập.
Những thành tựu trong lĩnh vực kinh tế đem lại là bước chuẩn bị hết sức quan trọng, là sự t ch lũy dần về lượng để tạo tiền đề cho sự thay đổi về chất trong công cuộc hiện đại hóa đất nước của Nhật ản sau này. Về ch nh trị: Đến giữa thế k XIX, Nhật ản vẫn là quốc gia phong kiến. Nhà vua được tôn là Thiên hoàng có vị tr tối cao nhưng quyền hành lại thuộc về Tướng quân ( hogun). Nhật Bản dưới sự trị vì của dòng họ Tokugawa suốt 300 năm (XVII - XIX) không hề có một cuộc chiến tranh nào chạm tới cuộc sống thanh bình của người dân nước này.
Vì chính 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền Tokugawa thực thi ch nh sách “Tỏa quốc” ( akoku) đóng của đất nước từ chối mọi sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Trong khi đó, thuộc địa - vấn đề xuất hiện ngay từ những ngày đầu t ch lũy tư bản chủ nghĩa vào thế k XV - XVI nay đã trở thành một nhu cầu cấp thiết của các nước này, vì vậy hầu hết khu vực Á - Phi nhanh chóng bị cuốn vào cơn lốc tranh giành thuộc địa của các nước Âu - ỹ. Nước Trung Hoa khổng lồ đã bị chia năm xẻ bảy bởi các nước đế quốc. Nhật ản cũng bị đặt trước nguy cơ tương tự vào giữa thế k XIX, nền độc lập được bảo toàn hơn hai thế k dưới ch nh quyền ạc phủ Tokugawa nay bắt đầu bị đe dọa.
Nhiều cường quốc Anh, Pháp, Nga, ỹ sau khi xâm lược các nước châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc và m c tiêu tiếp theo các nước này hướng tới là Nhật ản. Nga là cường quốc châu Âu đầu tiên đến yêu cầu Nhật ản mở cửa để buôn bán sau đó là các nước như Anh, Pháp. Tuy nhiên, Hoa ỳ mới trở thành quốc gia quyết định trong việc phá bỏ ch nh sách “Tỏa quốc” đưa Nhật ản hội nhập với thế giới bên ngoài. Ngày 3/6/1853, Edo đứng trước một bước ngoặt lớn được đánh dấu khi đoàn tàu chiến của hải quân ỹ do đô đốc.
Perry dẫn đầu vào vịnh Tokyo để trao bức thư của tổng thống ỹ đ i Nhật ản mở cửa. ột hiệp định theo yêu cầu của ỹ đã được ký kết vào m a xuân năm sau tại Kanagawa. Trong khi đó, các nước tư bản phương Tây nhân lúc tình hình Nhật Bản rối ren đã nhảy vào gây áp lực buộc Nhật Bản phải mở cửa cho họ vào tự do buôn bán. Nhật Bản đứng trước hai sự lựa chọn: Một là, tiếp t c con đường trì trệ, bảo thủ để các nước đế quốc xâu xé; Hai là, canh tân, cải cách xóa bỏ chế độ phong kiến đưa Nhật Bản hòa nhập với nền kinh tế phát triển hiện đại phương Tây.
Ngày 31/3/1854, Hoa Kỳ liên t c d ng vũ lực đến gây hấn khiến Mạc phủ phải ký hiệp ước Kanagawa với bốn điều khoản chính bất lợi thuộc về Nhật Bản như: Một là, Nhật Bản sẽ cung cấp lương thực, chất đốt 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho tàu thuyền Mỹ; Hai là, hai bên hứa cứu hộ lẫn nhau mỗi khi có tàu thuyền gặp nạn; Ba là, Nhật Bản thừa nhận việc Mỹ gửi lãnh sự đến đóng tại hai cửa biển Shimoda và Hakodate cho Hoa Kỳ vào buôn bán; Bốn là, Nhật Bản dành cho Hoa Kỳ quyền quốc gia được ưu đãi đặc biệt. Sau Hoa Kỳ đến lượt Anh, Pháp, Đức đ i Nhật Bản phải mở cửa và ký những hiệp ước bất bình đẳng khác. Việc ký kết một loạt hiệp ước mở đã chứng tỏ rằng chính sách bế quan tỏa cảng của Nhật Bản đã ch nh thức chấm dứt. Người Nhật đã phá vỡ lệ của riêng mình để hòa nhập vào cộng đồng quốc tế.
Sự kiện năm 1853 đã thực sự trở thành một cú h ch đưa Nhật Bản đến những biến đổi to lớn sau này. Bên cạnh áp lực của các cường quốc bên ngoài thì bản thân trong xã hội Nhật Bản nảy sinh mâu thuẫn ngày càng sâu sắc. Nhiều người cho rằng Mạc phủ cướp quyền của Thiên Hoàng đã làm cho nước Nhật yếu đi. Vì vậy họ phát động một phong trào đấu tranh chống Tướng quân đ i lại quyền hành cho Thiên hoàng dưới khẩu hiệu “Tôn vương nhương di”.
Tình hình Nhật Bản phức tạp hơn bao giờ hết.