Chương 1: Những ñiều kiện và tiền ñề hình thành tư tưởng ñạo ñức của John Stuart Mill trong tác phẩm Thuyết công lợi 1. Điều kiện kinh tế - xã hội John Stuart Mill sống ở Anh vào thế kỷ XIX, triều ñại Victoria. Trước ñó, cuộc cách mạng công nghiệp lần ñầu tiên ñã diễn ra tại Anh và ñem lại cho thế giới một diện mạo hoàn toàn khác, ñưa lịch sử phát triển văn minh nhân loại sang trang mới với những thành tựu lớn như: việc John Kay phát minh ra “thoi bay” vào năm 1773, James Watt phát minh ra máy hơi nước năm 1784, chế tạo ra ñầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước năm 1814, v. Thực ra, các ngành công nghiệp ñã phát triển mạnh ở nước Anh từ cuối thế kỷ XVI.
Tuy nhiên, chỉ ñến khi có những phát minh mới về kỹ thuật, năng suất lao ñộng xã hội mới ñược nâng lên mức cao, thúc ñẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quá trình công nghiệp hóa mạnh mẽ ñã làm cho nền kinh tế giản ñơn, quy mô nhỏ, chủ yếu dựa trên lao ñộng chân tay ñược thay thế bằng nền công nghiệp sử dụng máy móc trên quy mô lớn với sự xuất hiện của các khu công nghiệp. Cuối cùng, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ñã ñược xác lập, thay thế phương thức sản xuất phong kiến lỗi thời, lạc hậu. Lực lượng sản xuất mới xuất hiện nhanh chóng ñược phân bố, quá trình ñô thị hóa diễn ra nhanh chóng.
Năm 1851, nước Anh ñã tổ chức một cuộc triển lãm thế giới với quy mô lớn nhằm thông báo với toàn thế giới rằng kinh tế của Anh ñã phát triển mạnh mẽ. Thương mại cũng ñã có những bước tiến nhảy vọt nhờ các cuộc phát kiến ñịa lí lớn thế kỷ XV – XVI mà tiêu biểu ñó là việc tìm ra châu Mỹ. Những khám phá vĩ ñại về ñịa lí ñó ñã tạo ra một làn sóng di dân lớn trên thế giới trong thế kỉ XVI – XVIII, ñồng thời với nó là việc mở rộng thị trường, tạo ñộng lực thúc ñẩy hoạt ñộng buôn bán trên thế giới trở nên sôi nổi. Nhiều công ty buôn bán tầm cỡ quốc tế ñược thành lập.
Tình hình này 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ñòi hỏi phải phát triển giao thông vận tải ñường biển. Chính vì thế, Vương quốc Anh ñã ñi tiên phong trong việc chuyển từ ñóng tàu gỗ sang ñóng tàu kim loại. Những năm 60 của thế kỷ XIX, Anh ñã ñóng ñược tàu chở khách viễn dương với trọng tại 3 vạn tấn. Công nghiệp ñóng tàu của họ ngày một hiện ñại hơn và còn ñóng tàu thuyền cho các nước khác.
Nhờ những ưu thế về phát triển kỹ thuật, công nghiệp, thương mại mà Anh ñã thâu tóm phần lớn thuộc ñịa trên thế giới. Nước Anh chính thức bước sang giai ñoạn chủ nghĩa ñế quốc thực dân. John Stuart Mill sống trong giai ñoạn kinh tế Anh ñang hưng thịnh nhất, nắm giữ vị trí số một thế giới cả về kinh tế và thuộc ñịa. Trong thời kỳ này, không một quốc gia nào trên thế giới có thể vượt qua nước Anh về kinh tế.
Tuy nhiên, những mặt trái của chủ nghĩa tư bản ñã dần bộc lộ ngay ở thời kỳ hưng thịnh nhất nên kinh tế Anh cũng bị rơi vào tình trạng lũng ñoạn. John Stuart Mill ñã sớm nhận thấy những mặt trái, tiêu cực, hạn chế ñằng sau vẻ hào nhoáng của chủ nghĩa tư bản ñang lên từ cuộc khủng hoảng kinh tế ñầu tiên năm 1825 với hậu quả hết sức nghiêm trọng cho tới những cuộc chiến tranh phi nghĩa giành thuộc ñịa. Cách mạng công nghiệp ñã tạo ra một nền văn minh vật chất hoàn toàn khác trước, nhưng cũng không thể che giấu ñược mâu thuẫn nội tại và những hạn chế ñã bộc lộ rõ của chủ nghĩa tư bản. Một xã hội vị lợi nhuận, vị ñồng tiền thì ñương nhiên sẽ nhiệt thành ủng hộ thuyết công lợi của Jeremy Bentham.
Bài toán tối ña hóa lợi ích của Jeremy Bentham có một mục tiêu cao ñẹp là giảm thiểu bất hạnh và gia tăng hạnh phúc nhiều nhất có thể cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, giới cầm quyền chắc chắn sẽ lái nó theo hướng phù hợp với mục ñích kinh tế, chính trị của mình. Chính trong bối cảnh này, John Stuart Mill muốn bảo vệ và khắc phục những hạn chế trong học thuyết công lợi cổ ñiển của Bentham, bổ sung những tư tưởng ñạo ñức mang tính nhân văn hơn. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cuộc cách mạng công nghiệp ñã làm thay ñổi phương thức sản xuất, gây ra những chuyển biến trong cơ cấu và ñời sống xã hội.
Sự gia tăng dân số, phát triển ñô thị và quan trọng nhất ñó là việc hình thành giai cấp mới – giai cấp tư sản công thương và giai cấp vô sản công nghiệp là kết quả tất yếu của cách mạng công nghiệp. Đây là hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản chủ nghĩa với những mâu thuẫn ñối kháng gay gắt về mặt lợi ích. Sự phồn vinh về kinh tế dường như chỉ thấy ở tầng lớp các nhà tư bản, còn phần ñông công nhân thì vẫn sống trong cảnh thất nghiệp, bần cùng và ñói rét. Sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn trở thành một ñặc ñiểm của xã hội tư bản.
Trong tình cảnh ấy, nhà tư bản lại vẫn tiếp tục bóc lột người lao ñộng thậm tệ và tàn nhẫn. Để sinh tồn, người lao ñộng phải làm việc cật lực, sống khổ cực với ñồng lương ít ỏi. Tuy nhiên, họ ñã bắt ñầu có ý thức phản kháng. Từ ñó, những phong trào phản kháng của người công nhân như ñập phá máy móc, phá hủy nhà xưởng trở nên nổi tiếng trong lịch sử nước Anh.
Việc những phong trào này bị ñàn áp ñẫm máu càng làm cho những người công nhân hận thù nhà tư bản tới tận xương tủy. Mâu thuẫn giai cấp ñẩy lên ñỉnh ñiểm. Bối cảnh này có ảnh hưởng không nhỏ ñến tư tưởng ñạo ñức của John Stuart Mill. Trong tác phẩm Thuyết công lợi, ông ñề cập nhiều ñến vấn ñề công lý và bất công, trong ñó ông còn ñưa ra ví dụ minh họa liên quan ñến người cộng sản – thuộc giai cấp vô sản.
Cách mạng tư sản giương cao khẩu hiệu “Tự do, bình ñẳng, bác ái” ñã giải phóng con người hỏi sự kìm kẹp của chế ñộ phong kiến. Sau khi cách mạng tư sản giành thắng lợi, hệ thống chính trị căn bản của nước Anh là quân chủ lập hiến. Vào giữa thế kỷ XIX, các ñảng phái chính trị ở Anh ra ñời và nổi bật nhất là hai ñảng Bảo thủ và Tự do thay nhau thống trị ñời sống chính trị ở Anh. Cùng với việc xuất hiện nhà nước tư sản, ở phương Tây ñã hình thành các trào lưu tưởng về nhân quyền, quyền công dân, các học thuyết về thể chế chính trị và quyền tự do dân chủ.
Chính phủ Anh ñã 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hiện “chủ nghĩa tự do”, ban hành một số quyền tự do dân chủ cho người dân và cả những người lưu vong chính trị nước ngoài ñược quyền lánh nạn ñồng thời cũng ban hành chính sách tự do kinh tế, giảm thuế mậu dịch. Có thể nói, John Stuart Mill sống trong giai ñoạn ñược coi là “thế kỷ ñế chế” của Anh (1815 – 1914) với nhiều cuộc chiến ñể tạo lập thuộc ñịa. Anh quốc ñã có một thế kỷ thống trị không ñối thủ và phạm vi thuộc ñịa mở rộng khắp toàn cầu. Trong ñó, công ty Đông Ấn chính là dấu ấn của Đế chế Anh tại châu Á.
Từ năm 17 tuổi, John Stuart Mill ñã bắt ñầu làm việc tại công ty này - nơi mà cha ông là một trong những viên chức kỳ cựu nhất, và ở ñó cho tới khi công ty ngừng hoạt ñộng. Với tư chất thông minh cùng nền tảng kiển thức ñồ sộ của mình, lại ñược làm việc trong một môi trường tư bản chuyên về thương mại, John Stuart Mill có thể nắm bắt ñược bản chất của chủ nghĩa tư bản, của nền dân chủ mà ông ñang sống. Bởi vậy, ta có thể hiểu tại sao John Stuart Mill lại ñặc biệt quan tâm tới quyền tự do của con người, tới chính thể ñại diện và tư tưởng ñạo ñức của thuyết công lợi – một trong những học thuyết có ảnh hưởng lớn tới ñường lối cai trị ở Vương quốc Anh lúc bấy giờ. Những tư tưởng của John Stuart Mill về quyền tự do cá nhân qua tác phẩm Bàn về tự do ñược xem là phát minh trong lĩnh vực tư tưởng chính trị còn tác phẩm Thuyết công lợi ñã khiến mọi người biết ñến với ông tư cách người khai sáng chủ nghĩa công lợi.
Bối cảnh chính trị ñã ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng của John Stuart Mill, ñem lại cho ông nhiều suy nghĩ. Cộng với tài hoa của bản thân, John Stuart Mill ñã ñóng góp những tư tưởng cấp thiết và ý nghĩa. Những tiền ñề tư tưởng John Stuart Mill là một triết gia can ñảm dám nêu lên và dấn thân vào nghiên cứu những vấn ñề nhạy cảm của thời ñại. Ông luôn tìm kiếm 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những 9ý tưởng mới mẻ và những ñóng góp của ông mang dấu ấn cá nhân rõ rệt.
Cha John Stuart Mill là James Mill kì vọng có thể ñào tạo và tự giáo dục con trai mình trở thành một thiên tài. Do vậy, từ rất sớm John Stuart Mill ñã ñược tiếp nhận một khối lượng tri thức khổng lồ. Ta có thể nhận thấy trong hệ thống triết học của J.Mill dấu vết của hầu hết những khuynh hướng tư tưởng thời ñại trước. Nói ñến tư tưởng ñạo ñức của John Stuart Mill, tác giả luận văn muốn ñề cập ñến ba tư tưởng chính ñóng vai trò là tiền ñề quan trọng cho việc Mill xây dựng thuyết công lợi.
Đó là thuyết khoái lạc của Epicurus, mệnh lệnh tuyệt ñối của I. Kant và thuyết công lợi cổ ñiển của Jeremy Bentham. Thuyết khoái lạc của Epicurus Trong tác phẩm Thuyết công lợi, John Stuart Mill ñã dành một phần lượng không nhỏ của chương 2 ñể bàn về khoái lạc và ñương nhiên ông có nhắc ñến Epicurus. Quan niệm của Mill về khoái lạc có nhiều ñiểm tương ñồng với quan niệm của Epicurus.
Để có tự do, hạnh phúc, theo Epicurus, con người phải quay lưng lại với xã hội ñương thời, bàng quan với xã hội và sống theo nguyên tắc hướng con người tới việc chế ngự khoái lạc, né tránh những ham muốn ñời thường - những thứ mà ông cho là vật chất tầm thường, biến con người thành nô lệ cho những dục vọng. Tuy nhiên, Epicurus phân biệt rõ ràng khoái lạc nói chung với khoái lạc cụ thể.