phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chƣơng, 6 tiết. 7 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ CHU DỊCH VÀ Y HỌC CỔ TRUYỀN 1. Khái quát về Chu Dịch 1. Nguồn gốc và tính chất của Chu Dịch Nguyên là một bộ sách bói quẻ, Chu Dịch trong quá trình hình thành và lƣu truyền về sau có nhiều sự thay đổi và đƣợc các nhà Nho tôn xƣng là đứng đầu trong các bộ kinh (群經之首.
- Quần kinh chi thủ). Nguồn gốc tên gọi Chu Dịch cũng chƣa có sự nhất trí, chỉ dừng lại là những giả thuyết. Trƣớc hết là xem xét chữ “周”: Chữ “Chu” có hai cách giải thích khác nhau. Một là, chữ Chu nghĩa là “Chu tẩn vô sở bị”, theo nghĩa thông thƣờng, Chu có nghĩa là bao hàm hết thẩy.
Hai là, Chu có nghĩa là thời đại Chu (một trong ba triều đại Hạ, Thƣơng, Chu). Từ góc độ lịch sử và thực tiễn, cách giải thích thứ hai này phù hợp với việc ghi chép tên sách thời xƣa. Tiếp đến là chữ Dịch (易): Thời cổ đại, chữ Dịch có ba cách giải thích khác nhau. Thứ nhất, Dịch là chữ tƣợng hình, đƣợc mô phỏng theo hình con thằn lằn; thứ hai, trên chữ Dịch có chữ nhật 日 và chữ nguyệt 月.
Dịch là do hai chữ nhật nguyệt, tƣợng trƣng 8 cho âm dƣơng(AD), cấu thành; thứ ba, bộ phận dƣới của chữ Dịch là chữ vật 勿. Sau này, Dịch có ba nghĩa, giản Dịch, biến Dịch và bất Dịch. Trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, Chu Dịch luôn đƣợc chú giải, bổ sung. Tất cả thƣ tịch cổ của Trung Quốc khi đƣợc chú thích và lý giải tƣờng tận đều gọi là kinh 經.
Kinh đƣợc chú thích và lý giải đầy đủ gọi là truyện. Chu Dịch nguyên bản chỉ có kinh Dịch. Đến thời Hán, hai chữ Chu Dịch lại mang hàm nghĩa kép: hoặc chỉ Dịch kinh; hoặc chỉ chỉnh thể của cả phần Dịch kinh và Dịch truyện. a) Loại nhận thức thứ nhất cho rằng, Dịch kinh là sách viết về nghĩa và lý.
Ngay trong Dịch truyện đã có nhận thức này. Hệ từ viết: “易 之 為 書 也,原 始 要 終,以 為 質 也,六 爻 相 雜,唯 其 時 物 也. - Dịch chi vi thƣ dã, nguyên thủy yếu chung, dĩ vi chất dã, lục hào tƣơng tạp, duy kì thời vật dã. - Dịch là cuốn sách chủ yếu nghiên cứu và thảo luận về sự vật từ khi sinh ra đến khi mất đi”[13, tr.
Hoặc chỗ khác trong Hệ từ viết: “易 之 為 書 也,廣 大 悉 備,有 天 道 焉,有 人 道 焉,有地道 焉. - Dịch chi vi thƣ dã, quảng đại tất bị. Hữu thiên đạo yên, hữu nhân đạo yên, hữu địa đạo yên. - Dịch là tác phẩm triết học về đạo trời, đạo đất và đạo người”[13, tr.
Sau nhận thức về Dịch truyện, đã hình thành hai trƣờng phái lớn chú giải Kinh Dịch là phái Tượng số và phái Nghĩa lý. b) Loại nhận thức thứ hai cho rằng, Dịch kinh vốn là sách bói toán, bởi trong quái từ và hào từ đã chứa rất nhiều câu chuyện về bói toán. Đại biểu phái này là Chu Hy. Ông cho rằng, một số hào từ ghi chép lại nhiều truyện có thực trong lịch sử về bói toán, nhƣ trong các quẻ Minh Di (lục ngũ), quẻ Quy Muội (cửu ngũ), quẻ Thái (lục ngũ), quẻ Ký Tế (cửu tam)…Những nhận xét đó của Chu Hy về cơ bản là chính xác.
9 Học giả ngày nay có Lý Kính Trì tác giả của Chu Dịch thông nghĩa, Cao Hanh tác giả của Chu Dịch cổ kinh kim chú… cũng đồng quan điểm với Chu Hy. c) Ngày nay, cũng có một số học giả cho rằng, Kinh Dịch là một cuốn sách lịch sử đồ sộ. Xuất phát từ quan điểm của học giả thời Thanh, Chƣơng Học Thành đã từng nói “lục kinh giai sử”, nhiều học giả cũng đã đi theo hƣớng nghiên cứu này. Điển hình có Hồ Phác An với tác phẩm nổi tiếng Chu Dịch cổ sử quan (cách nhìn cổ sử về Chu Dịch).
Cũng có quan điểm cho rằng, kinh Dịch sử dụng cách nói ẩn dụ và vỏ bọc bên ngoài là sách bói toán để viết nên bộ sách lịch sử đó. Nhƣ vậy, Dịch kinh vốn là sách bói, nhƣng trong đó hàm chứa nhiều nội dung triết học thể hiện trong tƣợng, số, hào từ, quái từ, Dịch truyện…. Đây chính là những căn cứ nội tại để Dịch kinh thoát khỏi diện mạo vốn có của nó là sách bói, trở thành bộ sách có độ khái quát triết học sâu sắc. Kết cấu của Chu Dịch Chu dịch gồm hai bộ phận cấu thành là Dịch kinh và Dịch truyện.
Ngoài ra, các học giả dịch học sau này còn bổ sung hệ thống các sơ đồ, bảng biểu thƣờng đƣợc gọi là Dịch đồ để thuyết minh Dịch lý. * Vài nét về Dịch kinh Dịch kinh theo nghĩa hẹp là quái tƣợng (tƣợng quẻ), quái từ (lời quẻ), hào tƣợng (tƣợng hào), hào từ (lời hào) của 64 quẻ (quái); theo nghĩa rộng: bao quát toàn bộ cấu trúc nội tại của bộ sách Chu Dịch, Dịch truyện theo nghĩa hẹp là toàn bộ phần thập dực. Đơn vị cấu thành cơ bản của Dịch kinh là quái (quẻ) tƣợng. Mỗi quái tƣợng cùng với văn từ kèm theo tƣơng đƣơng với một thiên hoặc một chƣơng.
Kinh Dịch có tổng số 5006 ký tự và phù hiệu. Dịch kinh chia thành thƣợng kinh chủ yếu bàn về tự nhiên và hạ kinh chủ yếu bàn về xã hội. Hào là một ký hiệu nhỏ trong Dịch kinh, một vạch dài nằm ngang chỉ hào dƣơng (▬), hai hào ngắn (▬ ▬) nằm ngang chỉ hào âm. Quái là 10 một ký hiệu trong Dịch kinh, do ba hào hoặc sáu hào chồng lên nhau mà thành.Kinh quái tức là bát quái, còn gọi là đơn quái, bát kinh quái, bát thuần quái, tam hào quái, quái tiểu thành.
kinh quái do ba hào âm dƣơng chồng lên nhau mà hình thành. Biệt quái: 64 quái, còn gọi là phức quái, trùng quái, lục hào quái, đại thành quái. Biệt quái do hai kinh quái chồng lên nhau mà thành. * Vài nét về Dịch truyện Dịch truyện là phần luận giải một cách có hệ thống Dịch kinh từ suốt thời kỳ Chiến Quốc đến nay.
Dịch truyện bao gồm 7 loại và tổng cộng có 10 quyển (gọi là Thập dực): Thoán truyện (thƣợng, hạ), Tƣợng truyện (thƣợng, hạ), Văn ngôn truyện, Hệ từ truyện (thƣợng, hạ), Thuyết quái truyện, Tự quái truyện, Tạp quái truyện. Dịch truyện viết trong nhiều thời đại, không phải trong thời kỳ Chiến Quốc. Thoán truyện có thể ra đời sớm hơn còn Tự truyện có thể ra đời muộn hơn. Do đó, truyền thuyết cho rằng, Khổng tử là tác giả của Thập dực là không chính xác.
Nhƣng Dịch truyện có quan hệ mật thiết với Khổng tử. Dịch truyện do nhiều ngƣời thuộc nhiều trào lƣu tƣ tƣởng chấp bút. Trong đó có cả Đạo gia, Âm Dƣơng gia, dĩ nhiên cả Nho gia. Dịch truyện là kết quả của sự dung hòa học thuật thời Chiến Quốc và sau đó.
Dịch truyện và Dịch kinh vừa có mối liên hệ mật thiết vừa có sự khác biệt. Truyện là để giải thích kinh, nhƣng trong Dịch truyện cũng đã hòa nhập đƣợc rất nhiều tƣ tƣởng mới của các tác giả. Dịch truyện kế thừa quan niệm “Tƣợng” và “Số” của phép bốc phệ (bói cỏ thi). Tuy nhiên, Dịch truyện chú giải phép bốc phệ theo kiểu lý luận hoá, đồng thời đem nghĩa và lý hàm chứa trong Dịch kinh nâng lên một tầm cao mới.
Còn về thực chất, Dịch truyện đã là một tác phẩm triết học đồ sộ. Do đó, trong Dịch truyện tồn tại hai loại ngôn ngữ. Một là, ngôn ngữ của phép bốc phệ, giải thích quái tƣợng, hào tƣợng, vị trí của hào và phƣơng pháp bói; Hai là, ngôn ngữ triết học, nói về nguyên tắc biến Dịch của vũ trụ, giới tự nhiên, nguồn gốc và quy luật phát triển của xã hội loài ngƣời. Hai loại ngôn ngữ này, đôi khi diễn giải tách rời nhau, nhƣng hầu hết là nhập vào làm 11 một để diễn giải, trong bói toán có triết lý, trong triết lý có bói toán, vừa giảng giải về triết học vừa giảng giải về bói toán.
Không hiểu sâu ngôn ngữ của bốc phệ thì không thể đi sâu tìm hiểu triết lý của nó; ngƣợc lại, không biết đến ngôn ngữ triết học của nó, thì dùng bất cứ cách nào để giải thích kết quả bói toán đều là hoang đƣờng. Do đó, nghiên cứu Dịch truyện cần phải vừa tìm hiểu thuộc tính triết học của nó, vừa phải hiểu rõ đặc điểm bói toán của nó[30, tr. * Vài nét về Dịch đồ Dịch đồ có rất nhiều, số lƣợng Dịch đồ từ cổ chí kim có thể thành lập thành cuốn từ điển. Trong luận văn này, tác giả chỉ trình bày Hà đồ, Lạc thƣ, Tiên thiên bát quái và Hậu thiên bát quái là những hình vẽ có ảnh hƣởng trực tiếp đến YHCT - Hà đồ: Nguyên thủy là hình vẽ có 55 điểm đen trắng bố cục nhƣ sau: Các chấm trong Hà đồ gồm 1 và 6 ở dƣới, 2 và 7 ở trên, 3 và 8 ở bên tả, 4 và 9 ở bên hữu, còn 5 và 10 ở chính giữa.
Hay nói cách khác: 1 hợp 6, 2 hợp 7, 3 hợp 8, 4 hợp 9. Nhƣ vậy ứng với 8 quẻ là 4 số thực, 4 số thứ. Hệ từ thƣợng truyện viết: “Thiên 1 địa 2, thiên 3 địa 4, thiên 5 địa 6, thiên 7 địa 8, thiên 9 địa 10”[13, tr. Hệ từ thƣợng truyện lại viết: “Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ vị tƣơng đắc nhi các hữu hợp; thiên số nhị thập hữu ngũ, địa số tam thập, phàm thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ, thử sở dĩ thành biến hóa nhi hành quỷ thần giã.
- Nghĩa là: Số trời có 5 số, số đất có 5 số, năm ngôi cùng tương đắc mà đều hợp nhau, số trời là 25, số đất là 30, tổng số trời đất là 55, các số ấy tạo nên sự biến hóa và điều hành quỷ thần”[13, tr. Chu Hy giải thích: “Thiên lấy 1 sinh thuỷ mà địa lấy 6 thành thuỷ. Địa lấy 2 sinh hỏa mà thiên lấy 7 thành hỏa. Thiên lấy 3 sinh mộc mà địa lấy 8 hóa thành mộc.
Địa 12 lấy 4 sinh kim mà thiên lấy 9 hóa thành kim. Thiên lấy 5 sinh thổ mà địa lấy 10 hóa thành thổ. Đó gọi là hữu hợp. Cộng 5 số lẻ lại thành 25, cộng 5 số chẵn lại thành 30.
Hãy tổng hợp cả 2 số lại có 55. Số đó là toàn số của Hà đồ”. Quan sát Hà Đồ ta thấy: Bên phía phải, các số lẻ 7 và 9 (Dƣơng) lại ở bên ngoài, các số chẵn 2 và 4 (Âm) lại ở bên trong.