phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 8 tiết. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CHO SỰ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ CỦA KHỔNG TỬ TRONG TÁC PHẨM LUẬN NGỮ 1.1 Vài nét về thời đại và những tiền đề cơ bản cho sự ra đời tƣ tƣởng chính trị của Khổng Tử.1 Bối cảnh lịch sử Trung Quốc thời Khổng Tử Tư tưởng của Khổng Tử ra đời ở Trung Quốc vào thời Xuân Thu – Chiến Quốc (770 – 221 TCN). Đây là thời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ để bước vào chế độ phong kiến với một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất, nền kinh tế Trung Quốc đang có sự chuyển biến mạnh mẽ từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt với sự ra đời của nhiều công cụ lao động mới.
Ở thời Xuân Thu công cụ lao động bằng sắt đã bắt đầu xuất hiện và đặc biệt đến thời Chiến Quốc nó được sử dụng rộng rãi. Sự thay đổi của công cụ lao động đã dẫn đến những chuyển biến mạnh mẽ về đời sống kinh tế, chính trị - xã hội. Thứ hai, chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất là cơ sở cho sự ra đời các giai cấp và tầng lớp mới trong xã hội. Mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng gay gắt đó là: mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc nhà Chu và giai cấp địa chủ mới với nông dân, nông nô (những người này có nhu cầu được giải phóng khỏi áp bức); mâu thuẫn giữa quý tộc cũ muốn duy trì chế độ với một bộ phận quý tộc mới; mâu thuẫn giữa quý tộc mới với quý tộc mới nhằm tiêu diệt lẫn nhau để thiết lập quyền thống trị.
Về mặt xã hội, mâu thuẫn gay gắt nhất là mâu thuẫn giữa thiên tử và các nước chư hầu. Nếu ở đầu thời nhà Chu (Tây Chu), thiên tử có quyền uy tối cao, mọi việc đều do thiên tử đề xuất, quyết định thì đến thời 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xuân Thu – Chiến Quốc, thiên tử nhà Chu không còn giữ vai trò tối cao như trước đây, mà giờ đây nền chính trị do các nước làm bá chủ chi phối. Mâu thuẫn gay gắt trong giới quý tộc đã làm cho xã hội rối ren, trật tự xã hội bị đảo lộn. Hiện tượng tranh giành nhau về địa vị, quyền lực và đất đai đã xảy ra thường xuyên.
Khổng Tử gọi đây là thời kỳ con người sống vô đạo, quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử (vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha không phải đạo cha, con không phải đạo con). Thứ ba, chiến tranh khốc liệt kéo dài đã làm cho nhân dân sống trong đau khổ. Trong xã hội cảnh nồi da xáo thịt, bề tôi giết vua, anh giết em, con giết cha trở nên phổ biến. Thời Xuân Thu trải qua khoảng 242 năm thì đã xẩy ra 483 cuộc chiến tranh, không kể 450 lần “triều sính minh hội”.
Từ chỗ có tới 1800 nước chư hầu thì nay chỉ còn 5 nước lớn (Tề, Tấn, Tống, Tần, Sở) và một số nước nhỏ chờ bị tiêu diệt. Chiến tranh liên miên gây thảm họa chết chóc, ly tán, làm cho đời sống nhân dân vô cùng cực khổ như sử sách đã ghi “thây chất đầy thành, thây chết đầy đồng”. Mạnh Tử đã phải thốt lên rằng, “đánh nhau giành đất, thây chất thành đất; đánh nhau giành thành, thây chất đầy thành”. Đó là thời đại “liệt quốc kiêm tính” (nhiều nước đánh nhau).
Theo các sử gia nhận xét thì thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc là thời kỳ lịch sử đặc biệt có một không hai trong lịch sử Trung Quốc. Đây là thời kỳ cái mới, cái cũ đan xen, xáo trộn. Chính trong thời kỳ lịch sử đặc biệt này đã thúc đẩy sự ra đời của nhiều tư tưởng, học thuyết. Trong thời đại lịch sử đầy biến động và sâu sắc đó đã đặt ra những vấn đề về triết học, chính trị - xã hội, luân lý đạo đức, kinh tế, pháp luật, quân sự, v., kích thích lòng người khiến cho các bậc tài sĩ đương thời quan tâm lý giải, để tìm ra các phương pháp giải quyết “cứu đời, cứu người”, làm nảy sinh một loạt các nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường phái triết học lớn.
Nhìn chung, các nhà tư 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tưởng, các môn phái triết học đều đại diện cho các tầng lớp, giai cấp xã hội khác nhau, vừa kế thừa tư tưởng của nhau, vừa đấu tranh với nhau hết sức quyết liệt để giải quyết các vấn đề xã hội theo lập trường của giai cấp mình, tạo nên không khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung Hoa cổ đại. Nó thực sự trở thành điểm đỉnh của toàn bộ đời sống văn hoá tinh thần Trung Hoa cổ đại, như một mốc son chói lọi trong tư tưởng phương Đông. Trong số các học thuyết ra đời ở thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc, Nho giáo là học thuyết chính trị - đạo đức tiêu biểu nhất, có ảnh hưởng lâu dài nhất ở Trung Quốc do Khổng Tử (551 - 479) sáng lập. Sống trong thời kỳ loạn lạc, tận mắt chứng kiến cảnh chiến tranh cướp bóc, Khổng Tử ôm ấp hoài bão chính trị muốn xây dựng đất nước thái bình thịnh trị theo khuôn mẫu của vua Nghiêu, vua Thuấn.
Đó là xã hội có đạo đức, trật tự xã hội ổn định. Suốt cuộc đời mình, Khổng Tử trăn trở tìm kiếm phương thuốc hữu hiệu để cứu chữa căn bệnh của thời đại “lễ hoại, nhạc băng” (lễ bị huỷ hoại, nhạc đã mất). Để thực hiện được mục tiêu này, ông đã xây dựng nên đường lối đức trị. Tư tưởng này của ông đã được các thế hệ học trò tiếp tục kế thừa và phát triển.
Những tiền đề văn hoá, tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng chính trị của Khổng Tử. Cũng như các tư tưởng khác, tư tưởng của Khổng Tử là một học thuyết chính trị - đạo đức ra đời trên cơ sở hiện thực xã hội. Chính nhu cầu thực tiễn của thời đại Xuân Thu – Chiến Quốc là nguyên nhân cơ bản nhất, trực tiếp nhất cho sự ra đời của tư tưởng chính trị của Khổng Tử. Nếu chỉ khẳng định nguyên nhân tồn tại xã hội là duy nhất cho sự ra đời của tư tưởng Khổng Tử thì chưa đủ.
Bản thân tư tưởng của Khổng Tử nói chung, tư tưởng chính trị của Khổng Tử nói 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com riêng, được hình thành bởi nhiều nguyên nhân khác, đó là nền tảng văn hoá, tư tưởng chính trị, đạo đức truyền thống của Trung Quốc. Thứ nhất, về tri thức khoa học. Ngay từ thời cổ đại, người Trung Quốc đã phát minh ra chữ viết – một kiểu chữ tượng hình, mô phỏng các sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên như sông, núi, mặt trăng, mặt trời, v., được khắc trên xương thú, mai rùa dùng vào việc bói toán và kéo theo đó là những người chuyên làm việc bói toán gọi là quan Thái bốc. Cuốn sách bói toán thể hiện sự tích hợp kinh nghiệm sống hàng ngàn đời, nhưng hàm chứa không ít những yếu tố ngẫu nhiên, thần bí là Chu Dịch được hoàn thiện vào thời nhà Chu, về sau trở thành cuốn kinh điển của Nho gia với tên gọi là Kinh Dịch.
Đây là cuốn sách phản ánh quá trình hình thành và tiến hóa của vũ trụ, thông qua nó để thể hiện tư tưởng triết học tự nhiên trên cơ sở lý giải mối quan hệ giữa Âm và Dương trong chỉnh thể sơ khai là Thái cực. Để phát triển nông nghiệp, ngoài việc xây dựng các công trình thuỷ lợi dẫn nước vào ruộng, người ta đã biết quan sát sự vận hành của mặt trăng để tính ra chu kì thuỷ triều lên xuống, biết làm ra lịch pháp tính ngày, giờ, tháng, năm theo dõi thời tiết, khí hậu, mùa màng dựa vào hệ thống 10 can, 12 chi. Bên cạnh những thành tựu về khoa học tự nhiên, Trung Quốc có một nền văn học rất phong phú. Ngay từ đầu thời Tây Chu, Kinh Thi đã xuất hiện.
Đây là tập thơ ca và cũng là tác phẩm văn học đầu tiên của Trung Quốc với 305 bài thơ được chia làm 3 phần là Phong, Nhã, Tụng. Là một tập thơ được sáng tác trong 5 thế kỉ, Kinh Thi không chỉ có giá trị về văn học, mà còn là tấm gương phản ánh tình hình xã hội Trung Quốc đương thời. Ngoài ra, tác phẩm này còn được các nhà Nho đánh giá cao về tác dụng giáo dục tư tưởng của nó. Chính Khổng Tử đã nói: “Sao các con chẳng chịu đọc Kinh Thi? Kinh Thi khiến cho ta hưng khởi tâm 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hồn, dạy cho ta xem xét, dạy cho ta biết hợp quần, dạy cho ta biết oán giận chính đáng.
Gần thì biết thờ cha mẹ, xa thì biết thờ vua. Lại ghi nhớ tên gọi của nhiều loài chim, loài thú và cây cỏ” [28, tr. Thứ hai, về tư tưởng chính trị. Xuất phát từ quan niệm kính trời, thờ thượng đế, tri mệnh, người với trời hợp nhất, tư tưởng chính trị thời Chu đã được tôn giáo hoá một cách toàn diện, chủ trương của giai cấp quý tộc nhà Chu là “nhận dân”, “hưởng dân” và “trị dân”.
Thiên tử là người chịu mệnh trời nhận dân để thống trị thiên hạ. Chính vì vậy, mọi người phải kính cẩn, sợ uy trời và tôn trọng phép tắc của Thiên tử. Nếu kẻ làm dân mà làm loạn thì kẻ được “hưởng dân” (thiên tử) sẽ phải dùng phép tắc để trị dân. Thứ ba, về tư tưởng đạo đức.
Thời nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiếu làm nòng cốt cho tư tưởng đạo đức. Xuất phát từ quan niệm tôn giáo về trời – người hợp nhất, người Trung Hoa thời nhà Chu cho rằng, tổ tiên mình là các vua đời trước do có đức mà được sánh cùng Thượng đế, được nhận “Mệnh trời” mà “hưởng nước”, “hưởng dân”, v., do vậy, các vua đời sau phải kế thừa và bồi đắp nó để con cháu được hưởng phúc lâu dài. Hiếu là nhớ tổ tiên, giữ gìn khuôn phép của tổ tiên để nhận Mệnh, hưởng dân mãi mãi. Những tri thức phong phú kể trên là kết quả hoạt động thực tiễn lâu dài mà người dân lao động Trung Quốc đúc kết được.
Những tri thức này không những góp phần thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển mà còn là tiền đề cho sự ra đời của các học thuyết triết học, chính trị, đạo đức và tôn giáo thời Xuân Thu – Chiến Quốc trong đó có học thuyết chính trị của Khổng Tử. Về thân thế sự nghiệp của Khổng Tử 1.