Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông. Chương 2: Các biện pháp sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TƢ TIỆU VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC TRONG DẠY HỌCLỊCH SỬ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG. Một số khái niệm, thuật ngữ.
- “Tư liệu”: Là những thứ vật chất con người sử dụng trong một lĩnh vực hoạt động nhất định nào đó, cụ thể như tư liệu sinh hoạt hay tư liệu sản xuất; tư liệu cũng là những tài liệu sử dụng cho việc học tập, nghiên cứu ( Tư liệu tham khảo, phim tư liệu…) - “ Tư liệu về chủ quyền biển đảo”: Là những tài liệu phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu về chủ quyền biển đảo tổ quốc. Những tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc không chỉ là tư liệu lịch sử mà nó còn là tư liệu của nhiều lĩnh vực, nhiều ngành liên quan đến biển đảo như tư liệu địa lí, văn học, quốc phòng, tôn giáo, âm nhạc….Những tư liệu góp phần khẳng định chủ quyền biển đảo, khẳng định tầm quan trọng của biển đảo trong việc phát triển kinh tế- chính trị- xã hội đất nước. - “ Chủ quyền biển, đảo”: Khái niệm “ chủ quyền biển đảo” nằm trong khái niệm “chủ quyền quốc gia”. Theo Từ điển thuật ngữ Lịch sử phổ thông: “chủ quyền quốc gia” là quyền cao nhất của một dân tộc, một quốc gia độc lập, tự mình làm chủ đất đai, tài sản, tự mình quyết định vận mệnh của mình.
Những nội dung này được khẳng định trong pháp luật mỗi nước, trong văn bản pháp lí quốc tế, là nguyên tắc cơ bản cần tuân theo”. Vì vậy, “ Chủ quyền lãnh thổ quốc gia” là quyền tối cao tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ của mình. Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ là quyền quyết định mọi vấn đề của quốc gia đối với lãnh thổ, đó là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mỗi quốc gia có quyền đặt ra quy chế pháp lí đối với lãnh thổ.
Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với lãnh thổ thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước như hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “ Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”. - Một số khái nằm trong khái niệm chủ quyền biển đảo tổ quốc. + Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hãi. + Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam. + Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. + Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa. Nếu nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam. + “Phạm vi nội thủy”: Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 quy định: “Các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải Như vậy, bảo vệ “chủ quyền biển đảo tổ quốc” chính là bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tổ quốc. Cơ sở xuất phát của việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông. Mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử.
Hiện nay nước ta đang đẩy mạnh phát triển kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, của những mối quan hệ, những ảnh hưởng và tác động lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Quá trình hội nhập đã và đang tạo ra những thời cơ và thách thức với Việt Nam, đặt ra những yêu cầu mới trong việc giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại. Trước những yêu cầu của thời đại, Đảng ta đã đề ra mục tiêu phát triển văn hóa dân tộc đến năm 2020: “ …tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc, vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc anh em, vừa kiên trì củng cố và nâng cao tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam, tập trung xây dựng những giá trị văn hóa mới, đi đôi với việc mở rộng và chủ động trong giao lưu quốc tế, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc, bắt kịp sự phát triển của thời đại” [12, tr 15 – 16] Trên cơ sở mục tiêu phát triển văn hóa chung của đất nước, chương trình lịch sử ở trường phổ thông cũng đã xác định mục tiêu của bộ môn: “…góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội” [23, tr 206] 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường phổ thông, cho thấy việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông là thực sự cần thiết. Qua sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo trong dạy học lịch sử sẽ trang bị cho học sinh những kiến thức chính xác, cụ thể về chủ quyền biển đảo tổ quốc, qua đó giúp các em nhận thức sâu sắc vai trò, giá trị của biển đảo đối với nhiệm vụ phát triển đất nước trong lịch sử cũng như trong hiện tại và tương lai.
Nắm vững những kiến thức về chủ quyền biển đảo, là cơ sở để học sinh tự hào về truyền thống yêu nước, bảo vệ chủ quyền đất nước của nhân dân ta, học sinh ý thức được trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ sự toàn vẹn các vùng lãnh thổ tổ quốc. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông. Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.
Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông. Việc đổi mới phương pháp dạy học được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm.