Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tư duy nghệ thuật nhìn từ cấp độ quan niệm Chương 3: Tư duy nghệ thuật nhìn từ cấp độ hình tượng nghệ thuật Chương 4: Tư duy nghệ thuật nhìn từ cấp độ phương thức trần thuật 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tƣ duy nghệ thuật 1. Giới thuyết về tư duy và tư duy nghệ thuật 1.
Tư duy và những khái niệm liên quan Tư duy - cùng với vai trò cũng như tính chất phức tạp của nó, đã trở thành đối tượng của nhiều ngành nghiên cứu. Từ mỗi góc độ tiếp cận, tư duy được xem xét ở những khía cạnh, những phương diện khác nhau, từ đó đưa đến những định nghĩa khác nhau. Bởi vậy mà cho đến nay, việc đưa ra được một định nghĩa mang tính chiết trung và tường minh về tư duy là một điều không dễ dàng. Trong Từ điển tiếng Việt, tư duy được định nghĩa là “giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý” [193, tr1070].
Triết học Mác – Lênin cũng đã khái quát con đường nhận thức chân lý là con đường “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, sự nhận thức hiện thực khách quan” [21, tr114]. Từ những nền tảng chung của triết học, xã hội học, tâm lý học về tư duy, nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành trong Tư duy thơ hiện đại Việt Nam đã đi sâu vào những cách hiểu khác nhau về tư duy, từ đó nhấn mạnh một định nghĩa mang tính khái quát của nhà triết học M. Iudin như sau: “Tư duy là hoạt động nhận thức lý tính của con người. Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi của gần 16 tỷ tế bào thần kinh” [229, tr38].
Trong Lý luận văn học, nhà nghiên cứu Trần Khánh Thành từ quan niệm tư duy là một quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong bộ não con người, tác giả đã chỉ ra “mục đích của tư duy là nhận thức và phản ánh thế giới khách quan” [62, tr19]. Tác giả cũng đã tổng kết quá trình tư duy dựa trên nền tảng tư tưởng triết học Mác – Lênin, từ đó tiếp tục khẳng định: giai đoạn trực quan sinh động là giai đoạn của những cảm giác, tri giác và biểu tượng; giai đoạn tư duy trừu tượng là giai đoạn phát triển quan trọng của nhận thức, giúp con người có thể nắm bắt được bản chất của đối tượng, chiều sâu quy luật hiện thực khách quan. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, thông qua những định nghĩa trên, chúng ta có thể khẳng định rằng: tư duy là một giai đoạn phát triển quan trọng của quá trình nhận thức; mục đích của tư duy là nhận thức và phản ánh thế giới khách quan; con đường tư duy chính là tìm ra các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng và con người với thế giới khách quan từ đó rút ra những tri thức mới nhằm nắm bắt được bản chất của đối tượng, chiều sâu quy luật của hiện thực khách quan. Ngoài ra, tư duy còn mang đặc tính kế thừa và luôn vận động.
Nhờ tính kế thừa và luôn vận động, tư duy trở thành sản phẩm có tính tổng hòa của lịch sử nhân loại. Vì thế, bên cạnh tính cá nhân, gắn liền với từng chủ thể, tư duy còn mang tính dân tộc, tính thời đại, tính nhân loại. Khẳng định điều này, trong Tư duy thơ hiện đại Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành đã dẫn ra nhận định của Ph. Ăngghen trong tác phẩm Chống Duyring như sau: “Tư duy của con người có phải là tư duy riêng của một cá nhân không? Không phải.
Tuy vậy nó vẫn chỉ là tư duy cá nhân của hàng ức triệu con người trong quá khứ, hiện tại và tương lai” [229, tr11]. Việc tường minh khái niệm tư duy cũng trở nên khó khăn hơn bởi bao quanh tư duy còn là một trường các khái niệm kế cận. Tư duy rất gần nghĩa với ý thức nhưng giữa chúng vẫn có điểm khác biệt (ý thức là tư duy ở trạng thái tĩnh tại, là cái đã được phản ánh còn tư duy là ý thức ở trạng thái động, là một quá trình, một hoạt động nhận thức chưa hoàn kết). Tư duy cũng rất gần nghĩa với lí trí nhưng xét về bản chất, không thể đồng nhất lí trí với tư duy (nói đến lí trí là nói đến “cái lôgic có tính nguyên tắc của nhận thức” [229, tr39] còn nói đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của toàn bộ các yếu tố như tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, lí trí… nhằm mục đích nhận thức).
Tư duy cũng gần nghĩa với tư tưởng nhưng tư tưởng vừa là kết quả, vừa là xuất phát điểm của tư duy. Tư tưởng thiên về nội dung còn tư duy lại thiên về phạm trù phương pháp. Tóm lại, mỗi ngành đều có cách tiếp cận tư duy khác nhau. Tuy nhiên, không ai có thể phủ nhận rằng, tư duy là giai đoạn phát triển quan trọng trong quá trình nhận thức nhằm nắm bắt bản chất của đối tượng cũng như chiều sâu quy luật của hiện thực đời sống.
Hoạt động nhận thức ấy ở mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi lĩnh vực khác nhau sẽ có những đặc trưng phổ biến, tạo thành các phương pháp, cách thức tư duy 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong văn học, tư duy được hiểu là sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố tư tưởng và tình cảm, cảm xúc và lí trí nhằm mục đích nhận thức. Bởi tính kế thừa và luôn vận động, tư duy vừa mang tính cá nhân vừa mang tính dân tộc, tính thời đại, tính nhân loại. Vì thế, tư duy không chỉ là một sản phẩm xã hội mà còn là sản phẩm có tính tổng hòa của lịch sử nhân loại.
Phân loại tư duy Mỗi ngành đều có góc độ tiếp cận tư duy khác nhau nên cũng có những tiêu chí để phân loại tư duy khác nhau. Thừa nhận tính tương đối trong cách phân loại tư duy, người viết đề cập đến một vài cách phân loại tư duy cụ thể như sau: Trong Tư duy thơ hiện đại Việt Nam, tác giả Nguyễn Bá Thành đã đưa ra hai cách phân loại. Cách thứ nhất là phân loại từ phương diện triết học, gồm hai nhóm phương pháp là tư duy siêu hình và tư duy biện chứng. Cách thứ hai là phân loại theo các hình thái ý thức xã hội, gồm ba nhóm là tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật và tư duy tôn giáo.
Trong đó, tư duy khoa học vận dụng trực tiếp phương pháp tư duy lôgic vào trong các ngành khoa học cụ thể. Tư duy nghệ thuật vận dụng trực tiếp phương pháp tư duy hình tượng vào các ngành nghệ thuật. Tư duy tôn giáo hướng tới cái vĩnh hằng, phi hiện thực, cái thiêng, tâm linh. Trong Lý luận văn học, Phương Lựu chia tư duy ra thành ba bình diện: tư duy hành động – trực quan, tư duy hình tượng – cảm tính và tư duy khái niệm – lôgic.
Tương ứng với ba bình diện này là ba hình thức: tư duy thực tiễn hàng ngày, tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học. Từ cách phân loại này, tác giả đã khẳng định rằng: tư duy hình tượng – cảm tính là cơ sở của tư duy nghệ thuật. Bên cạnh đó, trong Lý luận văn học, xuất phát từ mục đích và phương tiện nhận thức, nhà nghiên cứu Trần Khánh Thành đã đề xuất quan điểm chia tư duy thành hai kiểu cơ bản: tư duy lôgic và tư duy hình tượng. Trong đó, “tư duy lôgic là kiểu tư duy đặc thù của khoa học (…).
Tư duy hình tượng là kiểu tư duy đặc thù của nghệ thuật”[62, tr21]. Mặc dù có những điểm khác biệt trong các cách phân loại tư duy nói trên nhưng chúng lại gặp gỡ thống nhất trong việc xác định tư duy nghệ thuật là loại hình tư duy vận dụng phương pháp tư duy hình tượng vào trong các ngành nghệ thuật. Tư 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com duy hình tượng “đảm bảo sự tiếp xúc cảm tính, nhưng cách xa đối với khách thể (…); đòi hỏi tái hiện khách thể một cách toàn vẹn, tách khỏi hiện thực khách quan, chuyển nó thành một sự thực của ý thức” [148, tr264]. Vì thế, nó “cho phép người nghệ sĩ cùng một lúc vừa phát hiện khách thể, vừa bộc lộ thái độ của chủ thể.
Như vậy, tư duy nghệ thuật là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan nên chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan, đồng thời mang tính chủ quan và cá thể hóa rõ nét. Vì thế, trong tư duy nghệ thuật, hiện thực đời sống là nguồn gốc của nhận thức, là nội dung của tư duy còn hình thức của nó lại phụ thuộc vào chủ thể sáng tạo. Chủ thể sáng tạo với các yếu tố như trình độ, năng lực, tư chất, vốn sống, kinh nghiệm, nhân sinh quan, thế giới quan…sẽ quyết định cách thức, phương pháp, phẩm chất của tư duy. Hình thức ấy biểu hiện cụ thể thông qua sự nhận thức, phản ánh, biểu hiện và thể nghiệm, sáng tạo nghệ thuật.
Những yếu tố đó, được dồn nén và kết đọng lại trong tác phẩm nghệ thuật. Bởi vậy, hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm được coi là hình tượng của cảm xúc, chứa đựng “năng lượng” tình cảm của tác giả còn các yếu tố thuộc phương thức biểu hiện được xem như là những yếu tố góp phần biểu hiện quá trình tư duy của nhà văn. Mặc dù không nhằm mục đích phân loại tư duy nhưng trong Văn học như là tư duy về cái khả nhiên [225, tr124], Trần Đình Sử đã góp phần chỉ ra sự khác biệt giữa tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học.