Luận Án Tiến Sĩ Về Tư Duy Nghệ Thuật Trong Tiểu Thuyết Của Các Nhà Văn Nữ Hải Ngoại Đương Đại

Luận án tiến sĩ phân tích tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho

Chuyên ngành

Lý luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2016

198
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới của luận án

0.6. Cấu trúc của luận án

1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về tư duy nghệ thuật

1.2. Giới thuyết về tư duy và tư duy nghệ thuật

1.3. Tình hình nghiên cứu về tư duy nghệ thuật trong văn học Việt Nam

1.4. Tổng quan về tiểu thuyết và tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ hải ngoại đương đại

1.5. Tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại trong bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.6. Tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết và tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại đương đại

2. TƯ DUY NGHỆ THUẬT NHÌN TỪ CẤP ĐỘ QUAN NIỆM

2.1. Quan niệm nghệ thuật về hiện thực

2.1.1. Hiện thực thậm phồn

2.1.2. Hiện thực huyền ảo

2.1.3. Hiện thực phân mảnh được nhà văn nghiền ngẫm, thể nghiệm

2.2. Quan niệm nghệ thuật về con người

2.2.1. Con người như một nhân vị, bí ẩn, đa diện

2.2.2. Con người vô cảm, cô đơn, hoài nghi

2.3. Quan niệm về tiểu thuyết

2.3.1. Tiểu thuyết - một phức hợp thể loại chưa hoàn kết

2.3.2. “Tiểu thuyết mảnh vỡ”

2.3.3. Tiểu thuyết như một trò chơi tự sự

3. TƯ DUY NGHỆ THUẬT NHÌN TỪ CẤP ĐỘ HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT

3.1. Hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại

3.1.1. Các hình tượng nhân vật cơ bản

3.1.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật

3.1.3. Hình tượng nghệ thuật giàu tính biểu tượng

3.1.4. Nước mắt – biểu tượng của nỗi đau nữ giới

3.1.5. Giấc mơ – biểu tượng của thế giới vô thức thầm kín

3.1.6. Hồn ma – biểu tượng của thế giới tâm linh huyền ảo

3.2. Thời gian trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại

3.2.1. Sự sai trật niên biểu và tính đa chiều của thời gian

3.2.2. Thời gian xảy lặp

3.3. Không gian trong tiểu thuyết của một số nhà văn nữ Việt Nam hải ngoại

3.3.1. Không gian mang tính phân hóa, khu biệt

3.3.2. Không gian mang tính cá thể hóa, tâm linh hóa

4. TƯ DUY NGHỆ THUẬT NHÌN TỪ CẤP ĐỘ PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT

4.1. Đa dạng hóa các hình thức kết cấu

4.2. Kết cấu đa tầng bậc

4.3. Kết cấu phân mảnh

4.4. Kết cấu xoắn kép

4.5. Khuynh hướng tự thuật

4.5.1. Nguyên nhân và sự thể hiện

4.5.2. Mô hình của tự thuật

4.5.3. Vai trò của tự thuật

4.6. Ngôn ngữ hiện đại hóa

4.6.1. Sử dụng nhiều tỉnh lược ngữ dụng

4.6.2. Tăng cường đặc tính đối thoại, phối hợp, đa âm

4.6.3. Phối kết mạnh mẽ nhiều loại hình ngôn ngữ

4.7. Giọng điệu giàu sắc thái thẩm mĩ

4.7.1. Giọng điệu triết lý, chiêm nghiệm, suy tư

4.7.2. Giọng điệu trữ tình sâu lắng

4.7.3. Giọng điệu giễu nhại, hài hước

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tư Duy Nghệ Thuật Trong Tiểu Thuyết Nữ Hải Ngoại Đương Đại

Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết nữ hải ngoại đương đại là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng, phản ánh sự phát triển của văn học Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. Các nhà văn nữ hải ngoại đã thể hiện những quan niệm nghệ thuật độc đáo, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tư duy nghệ thuật mà còn chỉ ra những thách thức mà các tác giả nữ phải đối mặt trong quá trình sáng tác.

1.1. Định Nghĩa Tư Duy Nghệ Thuật Trong Văn Học

Tư duy nghệ thuật được hiểu là cách mà các nhà văn tiếp cận và thể hiện hiện thực qua tác phẩm của mình. Nó bao gồm các yếu tố như quan niệm về con người, xã hội và nghệ thuật. Đặc biệt, trong tiểu thuyết nữ hải ngoại, tư duy này thường mang tính phản biện và khám phá sâu sắc về bản sắc văn hóa.

1.2. Vai Trò Của Tiểu Thuyết Nữ Trong Văn Học Hải Ngoại

Tiểu thuyết nữ hải ngoại không chỉ là một phần của văn học Việt Nam mà còn là cầu nối giữa các nền văn hóa. Những tác phẩm này thường phản ánh những trải nghiệm sống động của người Việt ở nước ngoài, từ đó tạo ra một không gian nghệ thuật đa dạng và phong phú.

II. Những Thách Thức Trong Tư Duy Nghệ Thuật Của Các Nhà Văn Nữ Hải Ngoại

Các nhà văn nữ hải ngoại phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thể hiện tư duy nghệ thuật của mình. Những khó khăn này không chỉ đến từ môi trường sáng tác mà còn từ những định kiến xã hội và văn hóa. Việc tìm kiếm một giọng điệu riêng và khẳng định bản sắc cá nhân là một trong những nhiệm vụ quan trọng.

2.1. Định Kiến Văn Hóa Và Xã Hội

Định kiến về vai trò của phụ nữ trong xã hội vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến cách mà các nhà văn nữ thể hiện tư duy nghệ thuật. Họ thường phải đấu tranh để khẳng định giá trị của mình trong một thế giới văn học chủ yếu do nam giới chi phối.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Khẳng Định Bản Sắc

Việc tìm kiếm và khẳng định bản sắc cá nhân trong sáng tác là một thách thức lớn. Các nhà văn nữ hải ngoại thường phải đối mặt với áp lực từ cả cộng đồng người Việt và xã hội nơi họ sinh sống, điều này ảnh hưởng đến cách họ thể hiện tư duy nghệ thuật.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tư Duy Nghệ Thuật Trong Tiểu Thuyết Nữ

Để nghiên cứu tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết nữ hải ngoại, cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Những phương pháp này giúp làm rõ các yếu tố nghệ thuật và cách mà các nhà văn nữ thể hiện tư duy của mình qua tác phẩm.

3.1. Phân Tích Thi Pháp Nghệ Thuật

Phân tích thi pháp nghệ thuật giúp hiểu rõ hơn về cách mà các nhà văn xây dựng hình tượng và cấu trúc tác phẩm. Điều này cho phép nhận diện những đặc điểm nổi bật trong tư duy nghệ thuật của họ.

3.2. Nghiên Cứu Tình Huống Sáng Tác

Nghiên cứu tình huống sáng tác giúp làm rõ bối cảnh và hoàn cảnh mà các nhà văn nữ phải đối mặt. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn về những ảnh hưởng từ môi trường sống đến tư duy nghệ thuật của họ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Tư Duy Nghệ Thuật Trong Tiểu Thuyết Nữ

Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết nữ hải ngoại không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc phát triển văn học. Những tác phẩm này có thể góp phần nâng cao nhận thức về văn hóa và bản sắc dân tộc trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

4.1. Góp Phần Vào Diện Mạo Văn Học Việt Nam

Tiểu thuyết nữ hải ngoại đã góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn học Việt Nam. Những tác phẩm này không chỉ phản ánh hiện thực mà còn mở ra những góc nhìn mới về văn hóa và xã hội.

4.2. Tạo Ra Không Gian Nghệ Thuật Đặc Biệt

Các nhà văn nữ hải ngoại đã tạo ra một không gian nghệ thuật đặc biệt, nơi mà những trải nghiệm và cảm xúc của họ được thể hiện một cách chân thực và sâu sắc. Điều này không chỉ giúp khẳng định giá trị của văn học nữ mà còn tạo ra những kết nối giữa các thế hệ.

V. Kết Luận Về Tư Duy Nghệ Thuật Trong Tiểu Thuyết Nữ Hải Ngoại

Tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết nữ hải ngoại là một lĩnh vực nghiên cứu phong phú và đa dạng. Những đóng góp của các nhà văn nữ không chỉ làm phong phú thêm văn học Việt Nam mà còn mở ra những hướng đi mới cho nghiên cứu văn học trong tương lai.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Tư Duy Nghệ Thuật

Nghiên cứu tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết nữ hải ngoại sẽ tiếp tục phát triển, mở ra nhiều cơ hội cho các nhà nghiên cứu và tác giả. Điều này không chỉ giúp làm rõ hơn về văn học nữ mà còn góp phần vào sự phát triển của văn học Việt Nam.

5.2. Khuyến Khích Sáng Tác Và Nghiên Cứu

Khuyến khích các nhà văn nữ tiếp tục sáng tác và nghiên cứu sẽ giúp nâng cao giá trị của văn học nữ hải ngoại. Những tác phẩm mới sẽ tiếp tục làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tư duy nghệ thuật nhìn từ cấp độ quan niệm Chương 3: Tư duy nghệ thuật nhìn từ cấp độ hình tượng nghệ thuật Chương 4: Tư duy nghệ thuật nhìn từ cấp độ phương thức trần thuật 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tƣ duy nghệ thuật 1. Giới thuyết về tư duy và tư duy nghệ thuật 1.

Tư duy và những khái niệm liên quan Tư duy - cùng với vai trò cũng như tính chất phức tạp của nó, đã trở thành đối tượng của nhiều ngành nghiên cứu. Từ mỗi góc độ tiếp cận, tư duy được xem xét ở những khía cạnh, những phương diện khác nhau, từ đó đưa đến những định nghĩa khác nhau. Bởi vậy mà cho đến nay, việc đưa ra được một định nghĩa mang tính chiết trung và tường minh về tư duy là một điều không dễ dàng. Trong Từ điển tiếng Việt, tư duy được định nghĩa là “giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý” [193, tr1070].

Triết học Mác – Lênin cũng đã khái quát con đường nhận thức chân lý là con đường “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, sự nhận thức hiện thực khách quan” [21, tr114]. Từ những nền tảng chung của triết học, xã hội học, tâm lý học về tư duy, nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành trong Tư duy thơ hiện đại Việt Nam đã đi sâu vào những cách hiểu khác nhau về tư duy, từ đó nhấn mạnh một định nghĩa mang tính khái quát của nhà triết học M. Iudin như sau: “Tư duy là hoạt động nhận thức lý tính của con người. Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi của gần 16 tỷ tế bào thần kinh” [229, tr38].

Trong Lý luận văn học, nhà nghiên cứu Trần Khánh Thành từ quan niệm tư duy là một quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong bộ não con người, tác giả đã chỉ ra “mục đích của tư duy là nhận thức và phản ánh thế giới khách quan” [62, tr19]. Tác giả cũng đã tổng kết quá trình tư duy dựa trên nền tảng tư tưởng triết học Mác – Lênin, từ đó tiếp tục khẳng định: giai đoạn trực quan sinh động là giai đoạn của những cảm giác, tri giác và biểu tượng; giai đoạn tư duy trừu tượng là giai đoạn phát triển quan trọng của nhận thức, giúp con người có thể nắm bắt được bản chất của đối tượng, chiều sâu quy luật hiện thực khách quan. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, thông qua những định nghĩa trên, chúng ta có thể khẳng định rằng: tư duy là một giai đoạn phát triển quan trọng của quá trình nhận thức; mục đích của tư duy là nhận thức và phản ánh thế giới khách quan; con đường tư duy chính là tìm ra các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng và con người với thế giới khách quan từ đó rút ra những tri thức mới nhằm nắm bắt được bản chất của đối tượng, chiều sâu quy luật của hiện thực khách quan. Ngoài ra, tư duy còn mang đặc tính kế thừa và luôn vận động.

Nhờ tính kế thừa và luôn vận động, tư duy trở thành sản phẩm có tính tổng hòa của lịch sử nhân loại. Vì thế, bên cạnh tính cá nhân, gắn liền với từng chủ thể, tư duy còn mang tính dân tộc, tính thời đại, tính nhân loại. Khẳng định điều này, trong Tư duy thơ hiện đại Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành đã dẫn ra nhận định của Ph. Ăngghen trong tác phẩm Chống Duyring như sau: “Tư duy của con người có phải là tư duy riêng của một cá nhân không? Không phải.

Tuy vậy nó vẫn chỉ là tư duy cá nhân của hàng ức triệu con người trong quá khứ, hiện tại và tương lai” [229, tr11]. Việc tường minh khái niệm tư duy cũng trở nên khó khăn hơn bởi bao quanh tư duy còn là một trường các khái niệm kế cận. Tư duy rất gần nghĩa với ý thức nhưng giữa chúng vẫn có điểm khác biệt (ý thức là tư duy ở trạng thái tĩnh tại, là cái đã được phản ánh còn tư duy là ý thức ở trạng thái động, là một quá trình, một hoạt động nhận thức chưa hoàn kết). Tư duy cũng rất gần nghĩa với lí trí nhưng xét về bản chất, không thể đồng nhất lí trí với tư duy (nói đến lí trí là nói đến “cái lôgic có tính nguyên tắc của nhận thức” [229, tr39] còn nói đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của toàn bộ các yếu tố như tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, lí trí… nhằm mục đích nhận thức).

Tư duy cũng gần nghĩa với tư tưởng nhưng tư tưởng vừa là kết quả, vừa là xuất phát điểm của tư duy. Tư tưởng thiên về nội dung còn tư duy lại thiên về phạm trù phương pháp. Tóm lại, mỗi ngành đều có cách tiếp cận tư duy khác nhau. Tuy nhiên, không ai có thể phủ nhận rằng, tư duy là giai đoạn phát triển quan trọng trong quá trình nhận thức nhằm nắm bắt bản chất của đối tượng cũng như chiều sâu quy luật của hiện thực đời sống.

Hoạt động nhận thức ấy ở mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi lĩnh vực khác nhau sẽ có những đặc trưng phổ biến, tạo thành các phương pháp, cách thức tư duy 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong văn học, tư duy được hiểu là sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố tư tưởng và tình cảm, cảm xúc và lí trí nhằm mục đích nhận thức. Bởi tính kế thừa và luôn vận động, tư duy vừa mang tính cá nhân vừa mang tính dân tộc, tính thời đại, tính nhân loại. Vì thế, tư duy không chỉ là một sản phẩm xã hội mà còn là sản phẩm có tính tổng hòa của lịch sử nhân loại.

Phân loại tư duy Mỗi ngành đều có góc độ tiếp cận tư duy khác nhau nên cũng có những tiêu chí để phân loại tư duy khác nhau. Thừa nhận tính tương đối trong cách phân loại tư duy, người viết đề cập đến một vài cách phân loại tư duy cụ thể như sau: Trong Tư duy thơ hiện đại Việt Nam, tác giả Nguyễn Bá Thành đã đưa ra hai cách phân loại. Cách thứ nhất là phân loại từ phương diện triết học, gồm hai nhóm phương pháp là tư duy siêu hình và tư duy biện chứng. Cách thứ hai là phân loại theo các hình thái ý thức xã hội, gồm ba nhóm là tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật và tư duy tôn giáo.

Trong đó, tư duy khoa học vận dụng trực tiếp phương pháp tư duy lôgic vào trong các ngành khoa học cụ thể. Tư duy nghệ thuật vận dụng trực tiếp phương pháp tư duy hình tượng vào các ngành nghệ thuật. Tư duy tôn giáo hướng tới cái vĩnh hằng, phi hiện thực, cái thiêng, tâm linh. Trong Lý luận văn học, Phương Lựu chia tư duy ra thành ba bình diện: tư duy hành động – trực quan, tư duy hình tượng – cảm tính và tư duy khái niệm – lôgic.

Tương ứng với ba bình diện này là ba hình thức: tư duy thực tiễn hàng ngày, tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học. Từ cách phân loại này, tác giả đã khẳng định rằng: tư duy hình tượng – cảm tính là cơ sở của tư duy nghệ thuật. Bên cạnh đó, trong Lý luận văn học, xuất phát từ mục đích và phương tiện nhận thức, nhà nghiên cứu Trần Khánh Thành đã đề xuất quan điểm chia tư duy thành hai kiểu cơ bản: tư duy lôgic và tư duy hình tượng. Trong đó, “tư duy lôgic là kiểu tư duy đặc thù của khoa học (…).

Tư duy hình tượng là kiểu tư duy đặc thù của nghệ thuật”[62, tr21]. Mặc dù có những điểm khác biệt trong các cách phân loại tư duy nói trên nhưng chúng lại gặp gỡ thống nhất trong việc xác định tư duy nghệ thuật là loại hình tư duy vận dụng phương pháp tư duy hình tượng vào trong các ngành nghệ thuật. Tư 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com duy hình tượng “đảm bảo sự tiếp xúc cảm tính, nhưng cách xa đối với khách thể (…); đòi hỏi tái hiện khách thể một cách toàn vẹn, tách khỏi hiện thực khách quan, chuyển nó thành một sự thực của ý thức” [148, tr264]. Vì thế, nó “cho phép người nghệ sĩ cùng một lúc vừa phát hiện khách thể, vừa bộc lộ thái độ của chủ thể.

Như vậy, tư duy nghệ thuật là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan nên chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan, đồng thời mang tính chủ quan và cá thể hóa rõ nét. Vì thế, trong tư duy nghệ thuật, hiện thực đời sống là nguồn gốc của nhận thức, là nội dung của tư duy còn hình thức của nó lại phụ thuộc vào chủ thể sáng tạo. Chủ thể sáng tạo với các yếu tố như trình độ, năng lực, tư chất, vốn sống, kinh nghiệm, nhân sinh quan, thế giới quan…sẽ quyết định cách thức, phương pháp, phẩm chất của tư duy. Hình thức ấy biểu hiện cụ thể thông qua sự nhận thức, phản ánh, biểu hiện và thể nghiệm, sáng tạo nghệ thuật.

Những yếu tố đó, được dồn nén và kết đọng lại trong tác phẩm nghệ thuật. Bởi vậy, hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm được coi là hình tượng của cảm xúc, chứa đựng “năng lượng” tình cảm của tác giả còn các yếu tố thuộc phương thức biểu hiện được xem như là những yếu tố góp phần biểu hiện quá trình tư duy của nhà văn. Mặc dù không nhằm mục đích phân loại tư duy nhưng trong Văn học như là tư duy về cái khả nhiên [225, tr124], Trần Đình Sử đã góp phần chỉ ra sự khác biệt giữa tư duy nghệ thuật và tư duy khoa học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ