chương 1 bao gồm: 1.1 Khái niệm biểu trưng – Tư duy biểu trưng 1.2 Lịch sử các hướng nghiên cứu biểu trưng 1.3 Emily Dickinson – sự sống sau cái chết Ở chương 2, Tư duy biểu trưng trong thơ Emily Dickinson từ góc nhìn cổ mẫu (45 trang), chúng tôi đi vào tìm hiểu hai cổ mẫu lớn nhất trong thơ Dickinson, là cổ mẫu linh hồn và cổ mẫu cái chết. Qua hai cổ mẫu này, chúng tôi thấy được những ý 7 nghĩa biểu trưng Dickinson muốn nhắc đến khi sử dụng chúng. Chương này tập trung trả lời một phần câu hỏi nghiên cứu thứ hai: ―Khi tiếp cận thơ của Emily Dickinson – một nhà thơ Mỹ – theo những con đường tư duy biểu trưng ở câu hỏi nghiên cứu số 1, tư duy sáng tạo và tái tạo hình ảnh biểu trưng của bà trong thơ đã được phản ánh như thế nào?‖ Các tiểu mục trong chương 2 bao gồm: 2. Cổ mẫu linh hồn 2.2 Cổ mẫu cái chết / tử thần Tiếp theo, với chương 3, Tư duy biểu trưng trong thơ Emily Dickinson nhìn từ phương diện ký hiệu học (46 trang), chúng tôi soi xét thơ Dickinson dưới ánh sáng ký hiệu học, tìm hiểu bà đã mã hóa ngôn ngữ như thế nào trong thơ mình.
Qua đó, chúng tôi cũng đề xuất cách giải mã ngôn ngữ của bà để tìm được ý nghĩa biểu tượng bà muốn đề cập đến khi tái tạo các hình ảnh đó. Trong chương này chúng tôi tiếp tục trả lời phần còn lại của câu hỏi nghiên cứu thứ hai: ―Tư duy sáng tạo và tái tạo hình ảnh biểu trưng của Dickinson trong thơ đã được phản ánh như thế nào khi tiếp cận thơ bà theo con đường tư duy biểu trưng thứ hai?‖ Các tiểu mục của chương 3 bao gồm: 3.1 Quá trình mã hóa ngôn ngữ 3.2 Quá trình giải mã ngôn ngữ Chương 4, chương cuối cùng, Tư duy thơ của Dickinson trong bối cảnh Văn học Mỹ thế kỷ XIX (41 trang), được tiến hành để xem xét mối liên hệ giữa Dickinson và thời đại bà đang sống, từ đó có thể rút ra những kết luận về sự đóng góp của bà trong việc hình thành bản sắc văn học Mỹ, cũng như sự vận động và phát triển của nền văn học Mỹ giai đoạn phục hưng của quốc gia. Chương 4 sẽ trả lời câu hỏi nghiên cứu cuối cùng của luận án: ―Với những hình ảnh biểu trưng đó, Dickinson phản ánh phương thức tư duy nào của thời đại mình? Bà có đóng góp như thế nào cho nền văn học dân tộc?‖ Các tiểu mục của chương 4 bao gồm: 4.1 Tư duy tự trị (Autonomy) 4.2 Tư duy tiên nghiệm (A priori) 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC HƢỚNG NGHIÊN CỨU VỀ BIỂU TRƢNG VÀ VỀ EMILY DICKINSON Cụm từ ―Tư duy‖ (thinking) không hẳn là một thuật ngữ mà đúng hơn là cách dùng học thuật của động từ ―suy nghĩ‖ (to think). Đó là một hoạt động tinh thần, một phương pháp lập luận để tiếp cận, giải thích hay giải quyết một vấn đề nào đó.
Trong bất cứ lĩnh vực nào của khoa học cũng cần có sự tư duy. Trong khi đó, cụm từ ―biểu trưng‖ quả thật là một thuật ngữ cần phải được làm rõ. Trong chương này, chúng tôi sẽ bắt đầu với khái niệm biểu trưng và sau đó những hướng nghiên cứu biểu trưng.1 Khái niệm “biểu trƣng” và tƣ duy biểu trƣng 1.1 Khái niệm ―biểu trưng‖ (symbol) Lịch sử của các biểu tượng, hay biểu trưng, có thể đã bắt đầu từ giai đoạn sớm nhất của chữ viết, khi con người tạo ra những hình ảnh để diễn đạt, trao đổi và lưu truyền những gì họ suy nghĩ (chữ tượng hình). Khi đó những hình ảnh, biểu tượng được sử dụng có thể chỉ là sự minh họa giản đơn của những sự vật / sự việc cần được nhắc đến chứ hầu như chưa có sự xuất hiện của tầng tầng lớp lớp ý nghĩa trong các hình ảnh biểu tượng.
Qua thời gian, các hình ảnh biểu tượng tiếp biến, thay đổi, và các giá trị ý nghĩa của chúng cũng biến hóa theo. Vì biểu tượng có lịch sử gắn liền với chữ viết như vậy nên trong giai đoạn của Ngữ học hiện đại cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với sự mở màn đầy ấn tượng của Ferdinand de Saussure (1857-1913), biểu tượng trở thành một bộ phận của Ký hiệu học, một ngành rộng lớn mà Saussure dự đoán sẽ bao quát tất cả các bộ môn khác trong toàn xã hội, dù lúc đó Ký hiệu học chưa thực sự tồn tại: ―Nó [Ký hiệu học] sẽ khảo sát bản chất của các ký hiệu và những quy luật chi phối chúng. Vì nó chưa xuất hiện nên người ta chưa thể chắc chắn rằng nó tồn tại. Nhưng nó có lý do để tồn tại và được dự liệu trước một chỗ đứng.
Đối với các nhà Ký hiệu học trường phái này, họ thống nhất quan điểm rằng 2 It [semiology] would investigate the nature of signs and the laws governing them. Since it does not yet exist, one cannot say for certain that it will exist. But it has a right to exist, a place ready for it in advance. 9 một ký hiệu sẽ có tương ứng hai giá trị biểu đạt, là cái biểu đạt (the signifier) hay mặt âm thanh của ký hiệu, và cái được biểu đạt (the signified) hay mặt nội dung của ký hiệu.
Từ đó, họ đi đến việc cấu trúc hóa và hệ thống hóa toàn bộ ngôn ngữ, mở đường cho nhiều nghiên cứu và khám phá quan trọng tiếp theo về cấu trúc, không chỉ trong ngôn ngữ mà nhiều ngành khác trong văn học và xã hội. Trường phái Ký hiệu học văn hóa Tartu-Moskva của Yuri M. Lotman tiếp nối tính cấu trúc trong Ký hiệu học của Saussure thông qua trường phái Hình thức Nga, đồng thời lại giải quyết được những điểm yếu của Ký hiệu học này. Umberto Eco, một nhà ký hiệu học, người viết Lời giới thiệu cho công trình Vũ trụ của tâm trí: lý thuyết ký hiệu học về văn hóa (Universe of the mind: a semiotic theory of culture) của Lotman, đã khẳng định rằng: ―… những nhà tân-ký hiệu học [các nhà ký hiệu học văn hóa] đã bước một bước xa hơn‖ (―… the neo-semioticians went a step further‖) (tr.
Điều này có thể hiểu rằng, khi các nhà Ký hiệu học trường phái Saussure khẳng định một ký hiệu sẽ có tương ứng hai giá trị biểu đạt như đã nói trên, thì Trường phái Ký hiệu học văn hóa cho rằng ký hiệu (biểu tượng) ―không thể đồng nhất với đối tượng được nó biểu nghĩa… ký hiệu và ý nghĩa của nó cũng không thể đồng nhất…‖ (Lotman, 2016, tr. Hay nói cách khác, ký hiệu, mà biểu tượng là một phần của nó, phá vỡ luật tự đồng nhất: một ký hiệu, hay biểu tượng, không thể có một giá trị hoàn toàn tương ứng với nó. Điều này xuất phát từ quan điểm về tính tự đồng nhất với chính bản thân mình của đối tượng nghiên cứu, A=A, để từ đó mọi sự nghiên cứu có thể được xuất phát từ nền tảng đó. Nhưng thế giới ký hiệu lại hoàn toàn khác, vì nếu nó mang tính tự đồng nhất, nó sẽ tự xóa bỏ tính ký hiệu của nó, nghĩa là nó sẽ tự xóa bỏ cái gọi là ý nghĩa của ký hiệu (Lotman, 2016, tr.
Tóm lại, quan điểm này cho rằng ký hiệu không có giá trị ý nghĩa trong chính bản thân nó mà là ngoài bản thân nó. Cũng trong Lời giới thiệu, Umberto Eco đã tóm lược những tư tưởng của Lotman như sau: các hệ thống ký hiệu là những khuôn mẫu, trong đó hệ thống khuôn mẫu đầu tiên là ngôn ngữ (primary modelling system), còn ―huyền thoại, các quy luật văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ khoa học‖ là những hệ thống khuôn mẫu thứ cấp (secondary modelling systems). Theo Lotman, ―chúng ta cũng phải tìm hiểu những hệ thống ký hiệu này [ký hiệu thứ cấp], bởi vì khi chúng dẫn đưa chúng ta đến với việc hiểu thế giới theo một cách nào đó, chúng cho phép chúng ta nói về chính thế giới đó‖3 (tr. Có thể nói, trường phái ký 3 ―We must therefore also study these semiotic systems which, since they lead us to understand the world in a 10 hiệu học văn hóa đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những biểu tượng văn hóa, điều tạo ra một khí quyển văn hóa, cho phép xã hội con người được cấu trúc và vận hành trong bầu khí quyển đó.
Quan điểm này về các biểu tượng khá gần với quan điểm của các nhà nghiên cứu biểu tượng dưới góc độ cổ mẫu mà chúng tôi sẽ đề cập dưới đây. Thực chất, nó chỉ khác ở cách tiếp cận và giải thích. Jung (1979) định nghĩa biểu tượng là … một thuật ngữ, một tên gọi, hoặc thậm chí một hình ảnh có thể quen thuộc trong đời sống hằng ngày, nhưng nó sở hữu những nghĩa hàm ẩn bên cạnh nghĩa quy ước và hiển nhiên của nó. Nó hàm ý một điều gì đó mơ hồ, chưa được biết đến, hoặc đang còn che giấu đối với chúng ta.
20) Theo Jung, biểu tượng ―hàm ý một điều gì đó mơ hồ, chưa được biết đến, hoặc đang còn che giấu đối với chúng ta‖, bởi vì nó có tính gợi; nó gợi lên một ý nghĩa khác ngoài ý nghĩa hiển nhiên được mặc định hay quy ước mà ai cũng hiểu, như ký hiệu, dấu hiệu. Ông giải thích thêm: … một chữ hay một hình ảnh sẽ trở thành một biểu tượng khi nó gọi đến cái gì khác ngoài ý nghĩa hiển nhiên và trực tiếp. Chữ ấy hay hình ảnh ấy có một khía cạnh không thể ý thức được, sâu rộng hơn, chưa bao giờ được xác định phân minh, được giải thích đầy đủ. Khi muốn tìm hiểu một biểu tượng, trí óc người ta nghĩ miên man đến sự kiện ở ngoài sự hiểu biết của chúng ta.
18) Có thể thấy ý kiến của Lotman tương tự ý kiến của Jung. Jung là thế hệ đi trước Lotman, và hướng tiếp cận của Jung – chịu ảnh hưởng người thầy của mình là Freud – là giải thích vấn đề từ khía cạnh ý thức và vô thức; trong khi đó, Lotman đứng từ khía cạnh văn hóa xã hội để nhìn nhận vấn đề. Cirlot (2001) dẫn lời của Rene Guenon, một học giả người Pháp có ảnh hưởng trong lĩnh vực siêu hình học, với một trong những lĩnh vực nghiên cứu là biểu tượng, khẳng định biểu tượng không thể được định nghĩa certain way, allow us to speak about it.‖ 4 … a term, a name, or even a picture that may be familiar in daily life, yet that possesses specific connotations in addition to its conventional and obvious meaning. It implies something vague, unknown, or hidden from us.
11 một cách chắc chắn, nhưng có một điều chắc chắn là biểu tượng luôn ở vị trí thấp hơn thứ được biểu trưng / đại diện.