Tư Duy Biểu Trưng Trong Thơ (Nghiên Cứu Trường Hợp Emily Dickinson)

Khám phá tư duy biểu trưng độc đáo trong thơ Emily Dickinson qua nghiên cứu chuyên sâu. Tìm hiểu cách biểu tượng tạo nên chiều sâu và sức mạnh cho tác phẩm.

Chuyên ngành

Lý luận Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2023

291
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC DẪN NHẬP

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Phương pháp nghiên cứu

1.4. Đóng góp của luận án

1.5. Cấu trúc của luận án

2. TỔNG QUAN CÁC HƢỚNG NGHIÊN CỨU VỀ BIỂU TRƢNG VÀ VỀ EMILY DICKINSON

2.1. Khái niệm “biểu trƣng” và tƣ duy biểu trƣng

2.1.1. Khái niệm ―biểu trưng‖ (symbol)

2.1.2. Tư duy biểu trưng (symbolic thinking)

2.1.3. Các thuật ngữ liên quan

2.2. Lịch sử các hƣớng nghiên cứu biểu trƣng

2.2.1. Hướng tiếp cận Phê bình cổ mẫu và Tưởng tượng vật chất

2.2.1.1. Sự hình thành lý thuyết theo Hướng tiếp cận Phê bình cổ mẫu và Tưởng tượng vật chất
2.2.1.2. Sự vận dụng lý thuyết

2.2.2. Hướng tiếp cận Ký hiệu học

2.2.2.1. Sự hình thành lý thuyết
2.2.2.2. Sự vận dụng lý thuyết

2.2.3. Hướng tiếp cận Chủ nghĩa Siêu nghiệm (Transcendentalism)

2.2.3.1. Sự hình thành Chủ nghĩa Siêu nghiệm
2.2.3.2. Đặc điểm của Chủ nghĩa Siêu nghiệm

2.2.4. Hướng tiếp cận Chủ nghĩa tượng trưng (Symbolist Movement)

2.2.4.1. Sự hình thành Chủ nghĩa tượng trưng
2.2.4.2. Đặc điểm của Chủ nghĩa tượng trưng

2.3. Emily Dickinson – sự sống sau cái chết

2.3.1. Việc nghiên cứu về cuộc đời và sáng tác của Emily Dickinson

2.3.2. Emily Dickinson và thơ của bà nhìn từ các góc độ khác nhau

2.3.2.1. Góc độ thi pháp – nghệ thuật
2.3.2.2. Góc độ tôn giáo – triết lý – tư tưởng

2.3.3. Việc nghiên cứu tư duy biểu trưng và việc nghiên cứu Dickinson tại Việt Nam – Những vấn đề còn bỏ ngỏ

2.4. Tiểu kết

3. CHƢƠNG 1: TƢ DUY BIỂU TRƢNG TRONG THƠ EMILY DICKINSON TỪ GÓC NHÌN CỔ MẪU

3.1. Cổ mẫu linh hồn

3.1.1. Linh hồn và sự ―giải huyền thoại‖ tôn giáo

3.1.2. Linh hồn và sự giả trang nhân diện (transvestism)

3.1.3. Linh hồn và cảm thức siêu nghiệm

3.2. Cổ mẫu cái chết / Tử thần

3.2.1. Huyền nhiệm cái chết trong tôn giáo Tin lành Calvinist

3.2.1.1. Hai bình diện của cái chết
3.2.1.2. Giá trị mới của cái chết
3.2.1.3. Huyền nhiệm những nấm mồ

3.2.2. Tử thần và ―lãng mạn đen‖ (dark romanticism)

3.3. Tiểu kết

4. CHƢƠNG 2: TƢ DUY BIỂU TRƢNG TRONG THƠ EMILY DICKINSON NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN KÝ HIỆU HỌC

4.1. Quá trình mã hóa ngôn ngữ

4.1.1. Mã hóa ngôn ngữ theo cấu trúc

4.1.1.1. Thơ định nghĩa (definition poems)

4.1.2. Mã hóa ngôn ngữ theo các phương thức tư duy

4.1.2.1. Thơ định nghĩa (definition poems) và tư duy quy nạp (inductive thinking)

4.2. Quá trình giải mã ngôn ngữ

4.2.1. Nghĩa hàm ẩn (connotation) trong quá trình giải mã

4.2.1.1. Roland Barthes và nghĩa hàm ẩn trong văn bản
4.2.1.2. Nghĩa hàm ẩn như một mạng lưới của hệ thống ký hiệu trong tác phẩm

4.2.2. Tính liên văn bản (intertextuality) trong quá trình giải mã

4.2.2.1. Lý thuyết liên văn bản và sự kết nối với truyền thống
4.2.2.2. Tính liên văn bản và những giá trị cá nhân

4.3. Tiểu kết

5. CHƢƠNG 3: TƢ DUY THƠ CỦA DICKINSON TRONG BỐI CẢNH VĂN HỌC MỸ THẾ KỶ XIX

5.1. Tƣ duy tự trị (Autonomy)

5.1.1. Hoàn cảnh nước Mỹ và vấn đề tự trị tinh thần

5.1.2. Tư duy tự trị trong văn học

5.1.3. Tư duy tự trị trong thơ Dickinson

5.2. Tƣ duy tiên nghiệm (a priori)

5.2.1. Tinh thần tượng trưng trong tư duy thơ

5.2.2. Tinh thần hiện sinh trong tư duy thơ

5.2.3. Tinh thần sinh thái trong tư duy thơ

5.3. Tiểu kết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tư Duy Biểu Trưng Trong Thơ Dickinson

Ngôn ngữ nghệ thuật luôn chứa đựng yếu tố hình tượng, biểu trưng; nghệ thuật ngôn từ là nghệ thuật của sự gợi ý tinh tế nhưng có sức ảnh hưởng sâu sắc. Nghệ thuật ấy xuất phát từ trí tưởng tượng phong phú, sáng tạo, độc đáo, từ trực quan nhạy bén của nhà văn. Qua ngòi bút, nó tìm đến độc giả, rồi tác động vào tâm trí một cách sống động. Sau đó, nó lại được sáng tạo, tái tạo không ngừng, khiến tri nhận của con người được mở rộng đến vô tận, đến những tiềm thức sâu thẳm nhất. Tính hình tượng này đậm đặc hơn trong thơ, do ngôn ngữ súc tích của nó. Việc khảo sát những biểu trưng trong bài thơ có thể cho biết những hình ảnh trong thơ có thể có gốc rễ từ đâu. Ngoài ra, chúng còn có thể phản ánh đời sống nội tâm và thế giới quan của tác giả ra sao. Đặc biệt với những tác giả có trí tưởng tượng khác lạ, việc tìm hiểu tính biểu trưng trong thơ của họ là một đòi hỏi thiết yếu.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Biểu Tượng Trong Thơ Ca

Sự vận động của thời gian đã chứng minh tính bản chất của biểu tượng trong ngôn ngữ nghệ thuật. Nhờ đó, một tác phẩm nghệ thuật có thể đến được với người thưởng lãm với chiều sâu nội dung. Điều này đòi hỏi người thưởng lãm, giống như người sáng tạo, cũng phải lao động trí óc cật lực để hiểu được những chiều kích nghệ thuật mà các hình ảnh biểu trưng đem lại. Khảo sát và nghiên cứu các biểu tượng giúp người đọc hiểu rõ hơn về đời sống nội tâm và thế giới quan của tác giả. Ngoài ra, nghiên cứu biểu tượng có thể phản ánh những ảnh hưởng lịch sử và văn hóa đến tác phẩm. Emily Dickinson là một ví dụ điển hình, khi các biểu tượng trong thơ bà phản ánh xã hội Mỹ thế kỷ 19.

1.2. Tư Duy Biểu Trưng Trong Văn Học Mỹ Bối Cảnh

Nền văn học Mỹ có một lịch sử hình thành đáng chú ý vì sự phát triển thần tốc của nó. Việc nghiên cứu và tìm hiểu tư duy thơ của các tác giả Mỹ sẽ đem lại những hiểu biết sâu rộng hơn về quốc gia này. Văn học Mỹ có thể nói là một đứa trẻ non nớt, thiếu dinh dưỡng, và bị bỏ rơi so với châu Âu từ những buổi ban đầu của sự hình thành quốc gia. Đa số các tác phẩm văn chương được đem sang từ mẫu quốc – nước Anh. Đến thời kỳ rực rỡ mà các nhà nghiên cứu gọi là sự phục hưng Hoa Kỳ (American Renaissance), những tên tuổi nổi bật như Longfellow, Emerson, Thoreau, Hawthorne, Melville, Poe… đã định vị bản sắc văn học Hoa Kỳ trên bản đồ văn học thế giới.

II. Thơ Dickinson Nghiên Cứu Tư Duy Biểu Trưng Độc Đáo

Việc chọn một tác giả nổi bật và điển hình của Văn học Mỹ trong thời đại phục hưng của họ như một trường hợp nghiên cứu điển hình sẽ có thể giúp nhận diện rõ hơn những đặc điểm văn học của quốc gia này, một nền văn học sôi động và luôn luôn biến đổi. Emily Dickinson chính là một trong những tượng đài tạo nên chất thơ và giọng thơ rất riêng đầy chất Mỹ. Luận án xác định hai đối tượng nghiên cứu chính: 1) Tư duy biểu trưng trong thơ và 2) trường hợp nghiên cứu điển hình là nhà thơ Mỹ Emily Dickinson (1830 – 1886).

2.1. Phạm Vi Nghiên Cứu Cổ Mẫu Và Ký Hiệu Học

Những hướng nghiên cứu chính về tư duy biểu trưng trong thơ sẽ được khảo sát với trường hợp của Dickinson để thấy ảnh hưởng của tư duy này trên sáng tác, cụ thể là sự hình thành các hình ảnh biểu trưng, từ đó xác định con đường tư duy của một nhà thơ. Đối với tư duy biểu trưng trong thơ, chúng tôi phát triển theo hai hướng chính: tư duy biểu trưng theo hướng nghiên cứu về các cổ mẫu và tư duy biểu trưng theo hướng nghiên cứu ký hiệu.

2.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Tư Duy Biểu Trưng Tổng Quan

Số lượng gần 1.800 bài thơ của Dickinson là khá đồ sộ. Vì vậy, những bài thơ được sử dụng sẽ được chọn lọc trên tiêu chí: 1) là những bài thơ mà chúng tôi nhận thấy thể hiện rõ con đường tư duy biểu trưng và/hoặc 2) là những bài thơ khá phổ biến và được công nhận là hết sức độc đáo của bà. Để phục vụ cho việc nghiên cứu đối tượng này, đôi chỗ chúng tôi sẽ có thể tham khảo và sử dụng nguồn tài liệu khác của bà, là những lá thư bà viết.

2.3. Mục Tiêu Nghiên Cứu Luận Án

Luận án xác định các mục tiêu nghiên cứu như sau: Trình bày một cách hệ thống con đường tư duy biểu trưng để sáng tạo và tái tạo các hình ảnh trong thơ, thông qua đó bộc lộ những tầng lớp ý nghĩa của các hình ảnh đó cũng như những lớp trầm tích văn hóa, xã hội, chính trị, cá nhân. Khai mở các hình ảnh được sử dụng trong thơ Dickinson để thấy được ý nghĩa và mục đích sử dụng các hình ảnh đó trong thơ bà, từ đó có thể gợi ý một hướng đi tương tự đối với quá trình tư duy kiến tạo hình ảnh biểu trưng của các nhà thơ. Làm rõ sự đóng góp của Dickinson trong việc hình thành tính cách Mỹ và bản sắc văn học Mỹ, trong giai đoạn phục hưng của quốc gia này (American Renaissance).

III. Cách Tiếp Cận Phân Tích Cổ Mẫu Và Ký Hiệu Học Dickinson

Phương pháp được sử dụng trong luận án theo hai hướng chính như sau: Phương pháp phê bình cổ mẫu và phê bình phân tâm vật chất để nghiên cứu theo hướng thứ nhất, và các phương pháp liên quan đến Ký hiệu học theo hướng thứ hai. Vì các hướng phê bình Ký hiệu học phong nhiêu và linh hoạt, chúng tôi sử dụng đa dạng phương pháp hơn để xem xét con đường tư duy của đối tượng khảo sát là thơ Dickinson. Phương pháp phê bình cổ mẫu: được sử dụng để phê bình và đánh giá tầm quan trọng và ý nghĩa của những cổ mẫu chiếm số lượng lớn được nhận thấy trong thơ Dickinson.

3.1. Phê Bình Phân Tâm Vật Chất Tưởng Tượng Sáng Tạo

Phương pháp phê bình phân tâm vật chất: dùng để xem xét những tố chất trong tư duy tưởng tượng và năng lực sáng tạo các hình tượng trong thơ Dickinson. Phương pháp ký hiệu học hàm nghĩa: chúng tôi áp dụng phương pháp này để nghiên cứu khả năng mã hóa và giải mã ký hiệu hình ảnh trong thơ Dickinson, đem lại những hiểu biết mới về hình ảnh trong thơ bà. Phương pháp liên văn bản: được sử dụng để làm rõ ý thức của bà trong việc tái sử dụng các hình ảnh trong Kinh Thánh trong thơ.

3.2. Phương Pháp Cấu Trúc Hệ Thống Trong Nghiên Cứu Thơ

Phương pháp cấu trúc – hệ thống: đối tượng nghiên cứu của luận án được xem xét như một hiện tượng có tính hệ thống, nằm trong dòng chảy văn học Mỹ. Phương pháp cấu trúc – hệ thống sẽ giúp tiếp cận thơ của bà trong tương quan với trường phái văn học xuất hiện trong thời đại của bà. Phương pháp phân tích – tổng hợp: được sử dụng để xem xét các khía cạnh nội dung, nghệ thuật của thơ Dickinson.

IV. Đóng Góp Luận Án Tư Duy Biểu Trưng Trong Thơ Mỹ

Luận án hệ thống hóa con đường tư duy để tạo ra các hình ảnh biểu trưng với các ý nghĩa phong phú được che giấu dưới lớp vỏ ngôn từ. Đồng thời, luận án cũng tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng kiến tạo và tái tạo hình ảnh biểu trưng của một nhà thơ, từ đó có thể khái quát hóa thành những tác nhân ảnh hưởng đến việc sáng tác thơ nói chung. Với những phát hiện được tìm thấy, luận án gợi ra một hướng nghiên cứu tương tự về các nhà thơ khác, qua đó mạng lưới ý nghĩa của các hình ảnh trong thơ họ cũng hy vọng được bộc lộ, hé mở thế giới tinh thần phong phú của các tác giả. Đối với hiện tượng thơ Dickinson, luận án cũng đóng góp một góc nhìn mới về thơ của Emily Dickinson cùng hệ thống các hình ảnh biểu trưng trong thơ của bà.

4.1. Ý Nghĩa Khoa Học Phân Tích Hình Ảnh Biểu Trưng

Luận án cũng cho thấy khả năng kết hợp các phương pháp phê bình văn học khác nhau cho một đối tượng để có thể khai mở và làm phát lộ ý nghĩa biểu trưng của các hình ảnh thơ ca. Luận án tìm thấy mạng lưới ý nghĩa của hình ảnh biểu trưng bao quát toàn bộ tác phẩm của nhà thơ, hệ thống hóa ý nghĩa các hình ảnh sử dụng trong thơ.

4.2. Giá Trị Thực Tiễn Nghiên Cứu Văn Học Mỹ

Luận án đóng góp về mặt phê bình và phân loại dòng nghệ thuật và tư tưởng của Emily Dickinson bằng việc phân tích và giải thích đầy đủ cho hiện tượng thơ Dickinson như một vị thế quan trọng trong Văn học Mỹ. Luận án tiếp tục đóng góp về mặt tư liệu cho những ai có mối quan tâm đối với Văn học Mỹ, trong đó có Dickinson, vì các nghiên cứu về thơ của bà ở Việt Nam hiện chưa phong phú và đa chiều.

12/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 bao gồm: 1.1 Khái niệm biểu trưng – Tư duy biểu trưng 1.2 Lịch sử các hướng nghiên cứu biểu trưng 1.3 Emily Dickinson – sự sống sau cái chết Ở chương 2, Tư duy biểu trưng trong thơ Emily Dickinson từ góc nhìn cổ mẫu (45 trang), chúng tôi đi vào tìm hiểu hai cổ mẫu lớn nhất trong thơ Dickinson, là cổ mẫu linh hồn và cổ mẫu cái chết. Qua hai cổ mẫu này, chúng tôi thấy được những ý 7 nghĩa biểu trưng Dickinson muốn nhắc đến khi sử dụng chúng. Chương này tập trung trả lời một phần câu hỏi nghiên cứu thứ hai: ―Khi tiếp cận thơ của Emily Dickinson – một nhà thơ Mỹ – theo những con đường tư duy biểu trưng ở câu hỏi nghiên cứu số 1, tư duy sáng tạo và tái tạo hình ảnh biểu trưng của bà trong thơ đã được phản ánh như thế nào?‖ Các tiểu mục trong chương 2 bao gồm: 2. Cổ mẫu linh hồn 2.2 Cổ mẫu cái chết / tử thần Tiếp theo, với chương 3, Tư duy biểu trưng trong thơ Emily Dickinson nhìn từ phương diện ký hiệu học (46 trang), chúng tôi soi xét thơ Dickinson dưới ánh sáng ký hiệu học, tìm hiểu bà đã mã hóa ngôn ngữ như thế nào trong thơ mình.

Qua đó, chúng tôi cũng đề xuất cách giải mã ngôn ngữ của bà để tìm được ý nghĩa biểu tượng bà muốn đề cập đến khi tái tạo các hình ảnh đó. Trong chương này chúng tôi tiếp tục trả lời phần còn lại của câu hỏi nghiên cứu thứ hai: ―Tư duy sáng tạo và tái tạo hình ảnh biểu trưng của Dickinson trong thơ đã được phản ánh như thế nào khi tiếp cận thơ bà theo con đường tư duy biểu trưng thứ hai?‖ Các tiểu mục của chương 3 bao gồm: 3.1 Quá trình mã hóa ngôn ngữ 3.2 Quá trình giải mã ngôn ngữ Chương 4, chương cuối cùng, Tư duy thơ của Dickinson trong bối cảnh Văn học Mỹ thế kỷ XIX (41 trang), được tiến hành để xem xét mối liên hệ giữa Dickinson và thời đại bà đang sống, từ đó có thể rút ra những kết luận về sự đóng góp của bà trong việc hình thành bản sắc văn học Mỹ, cũng như sự vận động và phát triển của nền văn học Mỹ giai đoạn phục hưng của quốc gia. Chương 4 sẽ trả lời câu hỏi nghiên cứu cuối cùng của luận án: ―Với những hình ảnh biểu trưng đó, Dickinson phản ánh phương thức tư duy nào của thời đại mình? Bà có đóng góp như thế nào cho nền văn học dân tộc?‖ Các tiểu mục của chương 4 bao gồm: 4.1 Tư duy tự trị (Autonomy) 4.2 Tư duy tiên nghiệm (A priori) 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC HƢỚNG NGHIÊN CỨU VỀ BIỂU TRƢNG VÀ VỀ EMILY DICKINSON Cụm từ ―Tư duy‖ (thinking) không hẳn là một thuật ngữ mà đúng hơn là cách dùng học thuật của động từ ―suy nghĩ‖ (to think). Đó là một hoạt động tinh thần, một phương pháp lập luận để tiếp cận, giải thích hay giải quyết một vấn đề nào đó.

Trong bất cứ lĩnh vực nào của khoa học cũng cần có sự tư duy. Trong khi đó, cụm từ ―biểu trưng‖ quả thật là một thuật ngữ cần phải được làm rõ. Trong chương này, chúng tôi sẽ bắt đầu với khái niệm biểu trưng và sau đó những hướng nghiên cứu biểu trưng.1 Khái niệm “biểu trƣng” và tƣ duy biểu trƣng 1.1 Khái niệm ―biểu trưng‖ (symbol) Lịch sử của các biểu tượng, hay biểu trưng, có thể đã bắt đầu từ giai đoạn sớm nhất của chữ viết, khi con người tạo ra những hình ảnh để diễn đạt, trao đổi và lưu truyền những gì họ suy nghĩ (chữ tượng hình). Khi đó những hình ảnh, biểu tượng được sử dụng có thể chỉ là sự minh họa giản đơn của những sự vật / sự việc cần được nhắc đến chứ hầu như chưa có sự xuất hiện của tầng tầng lớp lớp ý nghĩa trong các hình ảnh biểu tượng.

Qua thời gian, các hình ảnh biểu tượng tiếp biến, thay đổi, và các giá trị ý nghĩa của chúng cũng biến hóa theo. Vì biểu tượng có lịch sử gắn liền với chữ viết như vậy nên trong giai đoạn của Ngữ học hiện đại cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với sự mở màn đầy ấn tượng của Ferdinand de Saussure (1857-1913), biểu tượng trở thành một bộ phận của Ký hiệu học, một ngành rộng lớn mà Saussure dự đoán sẽ bao quát tất cả các bộ môn khác trong toàn xã hội, dù lúc đó Ký hiệu học chưa thực sự tồn tại: ―Nó [Ký hiệu học] sẽ khảo sát bản chất của các ký hiệu và những quy luật chi phối chúng. Vì nó chưa xuất hiện nên người ta chưa thể chắc chắn rằng nó tồn tại. Nhưng nó có lý do để tồn tại và được dự liệu trước một chỗ đứng.

Đối với các nhà Ký hiệu học trường phái này, họ thống nhất quan điểm rằng 2 It [semiology] would investigate the nature of signs and the laws governing them. Since it does not yet exist, one cannot say for certain that it will exist. But it has a right to exist, a place ready for it in advance. 9 một ký hiệu sẽ có tương ứng hai giá trị biểu đạt, là cái biểu đạt (the signifier) hay mặt âm thanh của ký hiệu, và cái được biểu đạt (the signified) hay mặt nội dung của ký hiệu.

Từ đó, họ đi đến việc cấu trúc hóa và hệ thống hóa toàn bộ ngôn ngữ, mở đường cho nhiều nghiên cứu và khám phá quan trọng tiếp theo về cấu trúc, không chỉ trong ngôn ngữ mà nhiều ngành khác trong văn học và xã hội. Trường phái Ký hiệu học văn hóa Tartu-Moskva của Yuri M. Lotman tiếp nối tính cấu trúc trong Ký hiệu học của Saussure thông qua trường phái Hình thức Nga, đồng thời lại giải quyết được những điểm yếu của Ký hiệu học này. Umberto Eco, một nhà ký hiệu học, người viết Lời giới thiệu cho công trình Vũ trụ của tâm trí: lý thuyết ký hiệu học về văn hóa (Universe of the mind: a semiotic theory of culture) của Lotman, đã khẳng định rằng: ―… những nhà tân-ký hiệu học [các nhà ký hiệu học văn hóa] đã bước một bước xa hơn‖ (―… the neo-semioticians went a step further‖) (tr.

Điều này có thể hiểu rằng, khi các nhà Ký hiệu học trường phái Saussure khẳng định một ký hiệu sẽ có tương ứng hai giá trị biểu đạt như đã nói trên, thì Trường phái Ký hiệu học văn hóa cho rằng ký hiệu (biểu tượng) ―không thể đồng nhất với đối tượng được nó biểu nghĩa… ký hiệu và ý nghĩa của nó cũng không thể đồng nhất…‖ (Lotman, 2016, tr. Hay nói cách khác, ký hiệu, mà biểu tượng là một phần của nó, phá vỡ luật tự đồng nhất: một ký hiệu, hay biểu tượng, không thể có một giá trị hoàn toàn tương ứng với nó. Điều này xuất phát từ quan điểm về tính tự đồng nhất với chính bản thân mình của đối tượng nghiên cứu, A=A, để từ đó mọi sự nghiên cứu có thể được xuất phát từ nền tảng đó. Nhưng thế giới ký hiệu lại hoàn toàn khác, vì nếu nó mang tính tự đồng nhất, nó sẽ tự xóa bỏ tính ký hiệu của nó, nghĩa là nó sẽ tự xóa bỏ cái gọi là ý nghĩa của ký hiệu (Lotman, 2016, tr.

Tóm lại, quan điểm này cho rằng ký hiệu không có giá trị ý nghĩa trong chính bản thân nó mà là ngoài bản thân nó. Cũng trong Lời giới thiệu, Umberto Eco đã tóm lược những tư tưởng của Lotman như sau: các hệ thống ký hiệu là những khuôn mẫu, trong đó hệ thống khuôn mẫu đầu tiên là ngôn ngữ (primary modelling system), còn ―huyền thoại, các quy luật văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ khoa học‖ là những hệ thống khuôn mẫu thứ cấp (secondary modelling systems). Theo Lotman, ―chúng ta cũng phải tìm hiểu những hệ thống ký hiệu này [ký hiệu thứ cấp], bởi vì khi chúng dẫn đưa chúng ta đến với việc hiểu thế giới theo một cách nào đó, chúng cho phép chúng ta nói về chính thế giới đó‖3 (tr. Có thể nói, trường phái ký 3 ―We must therefore also study these semiotic systems which, since they lead us to understand the world in a 10 hiệu học văn hóa đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những biểu tượng văn hóa, điều tạo ra một khí quyển văn hóa, cho phép xã hội con người được cấu trúc và vận hành trong bầu khí quyển đó.

Quan điểm này về các biểu tượng khá gần với quan điểm của các nhà nghiên cứu biểu tượng dưới góc độ cổ mẫu mà chúng tôi sẽ đề cập dưới đây. Thực chất, nó chỉ khác ở cách tiếp cận và giải thích. Jung (1979) định nghĩa biểu tượng là … một thuật ngữ, một tên gọi, hoặc thậm chí một hình ảnh có thể quen thuộc trong đời sống hằng ngày, nhưng nó sở hữu những nghĩa hàm ẩn bên cạnh nghĩa quy ước và hiển nhiên của nó. Nó hàm ý một điều gì đó mơ hồ, chưa được biết đến, hoặc đang còn che giấu đối với chúng ta.

20) Theo Jung, biểu tượng ―hàm ý một điều gì đó mơ hồ, chưa được biết đến, hoặc đang còn che giấu đối với chúng ta‖, bởi vì nó có tính gợi; nó gợi lên một ý nghĩa khác ngoài ý nghĩa hiển nhiên được mặc định hay quy ước mà ai cũng hiểu, như ký hiệu, dấu hiệu. Ông giải thích thêm: … một chữ hay một hình ảnh sẽ trở thành một biểu tượng khi nó gọi đến cái gì khác ngoài ý nghĩa hiển nhiên và trực tiếp. Chữ ấy hay hình ảnh ấy có một khía cạnh không thể ý thức được, sâu rộng hơn, chưa bao giờ được xác định phân minh, được giải thích đầy đủ. Khi muốn tìm hiểu một biểu tượng, trí óc người ta nghĩ miên man đến sự kiện ở ngoài sự hiểu biết của chúng ta.

18) Có thể thấy ý kiến của Lotman tương tự ý kiến của Jung. Jung là thế hệ đi trước Lotman, và hướng tiếp cận của Jung – chịu ảnh hưởng người thầy của mình là Freud – là giải thích vấn đề từ khía cạnh ý thức và vô thức; trong khi đó, Lotman đứng từ khía cạnh văn hóa xã hội để nhìn nhận vấn đề. Cirlot (2001) dẫn lời của Rene Guenon, một học giả người Pháp có ảnh hưởng trong lĩnh vực siêu hình học, với một trong những lĩnh vực nghiên cứu là biểu tượng, khẳng định biểu tượng không thể được định nghĩa certain way, allow us to speak about it.‖ 4 … a term, a name, or even a picture that may be familiar in daily life, yet that possesses specific connotations in addition to its conventional and obvious meaning. It implies something vague, unknown, or hidden from us.

11 một cách chắc chắn, nhưng có một điều chắc chắn là biểu tượng luôn ở vị trí thấp hơn thứ được biểu trưng / đại diện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ