Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CỦA SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Một số vấn đề chung về truyền thông 1. Truyền thông Mặc dù có rất nhiều định nghĩa về truyền thông, nhưng chưa có một định nghĩa nào thống nhất được tất cả các quan điểm khi bàn về khái niệm “Truyền thông”, bởi các học giả, nhà nghiên cứu thường xuất phát từ góc độ tiếp cận, quan điểm, chuyên ngành hay trường phái lý luận khác nhau. Đã có nhiều tài liệu đưa ra những quan điểm về truyền thông như sau: Theo quan niệm của Dean C.
Theo quan niệm của giáo sư Frank Dance(1970), - người Mỹ cho rằng: “Truyền thông là quá trình làm cho cái trước đây là độc quyền của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiều người” [20]. Theo cách hiểu của các học giả LittleJohn and Foss (2008), Truyền thông được xem là trung tâm của cuộc sống con người. Mọi góc độ của cuộc sống hàng ngày đều bị tác động bởi hoạt động truyền thông của chúng ta với người khác, cũng như bởi thông điệp từ những người mà thậm chí chúng ta không biết - những người ở gần và ở xa, đang sống và đã chết.[18] Uma Narula (2006) cho rằng, mặc dù, có rất nhiều cách định nghĩa về truyền thông, tuy nhiên, hầu hết các định nghĩa đều thống nhất như sau: Truyền thông của con người là một quá trình truyền tải ý tưởng thông qua cảm xúc và hành vi từ người này sang người khác; Hay: Truyền thông là thuyết phục và tìm cách nhận được phản hồi mong muốn cho những thông điệp đang được truyền đi; Hay: Truyền thông không tuyến tính, nhưng là một quá trình hai chiều và đa chiều.[19] Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, khái niệm truyền thông được sử dụng ngày càng nhiều với rất nhiều định nghĩa khác nhau. Mặc dù vậy, điểm chung của các định nghĩa về truyền thông ở Việt Nam là đều coi truyền thông là một quá trình truyền đạt thông tin giữa một hoặc nhiều người trong xã hội để truyền đạt ý tưởng, tình cảm nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi.
Trong cuốn Truyền thông đại chúng (2004), GS. Tạ Ngọc Tấn đã đưa ra một khái niệm tương đối đầy đủ về truyền thông: “Truyền thông là sự trao đổi thông tin giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn 8 nhau”[10]. Nguyễn Văn Dững (2006) trong cuốn sách Truyền thông: Lý thuyết và kỹ năng cơ bản cho rằng: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người, nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội. Mai Quỳnh Nam, truyền thông là hoạt động chuyển tải và chia sẻ thông tin.
Quá trình này diễn ra liên tục, trong đó tri thức, tình cảm và kỹ năng liên kết với nhau. Đây là một quá trình phức tạp qua nhiều khâu. Các khâu này chuyển đổi tương đối linh hoạt để hướng tới sự thay đổi nhận thức và hành vi của các cá nhân và các nhóm. Theo ông, truyền thông là một quá trình liên tục, phức tạp và nhiều khâu, trong đó tri thức, tình cảm và kỹ năng có mối liên kết chặt chẽ với nhau.
Để đưa ra định nghĩa phù hợp với phạm vi nghiên cứu của bài nghiên cứu này, tác giả sẽ dựa trên những nội dung của hoạt động truyền thông cũng như cách thức tiếp cận trên đây, tác giả khái quát các khái niệm về truyền thông như sau: Truyền thông là một quá trình truyền tải, tiếp nhận và trao đổi ý tưởng và thông tin thông qua cảm xúc và hành vi, nhằm thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người với mục đích đạt được sự hiểu biết, nâng cao nhận thức, hình thành thái độ và thay đổi hành vi của con người. Vai trò của truyền thông Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, hoạt động truyền thông tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội: Thứ nhất, vai trò của truyền thông đối với Nhà nước: Truyền thông giúp chính phủ truyền tải chính sách, luật pháp và thông tin chính thống của Nhà nước đến công chúng. Giúp người dân hiểu rõ về chính sách, quy định và quyền lợi của họ. Bên cạnh đó truyền thông tạo cơ hội để Nhà nước xây dựng, duy trì hình ảnh, danh tiếng và quan hệ công chúng của Nhà nước với cộng đồng quốc tế và công chúng trong nước.
Tạo cơ hội để để nâng cao lòng tin và sự ủng hộ từ phía công dân đối với chính phủ và nhà nước. Truyền thông cung cấp phương tiện để Nhà nước giao tiếp với công chúng, lắng nghe ý kiến và phản hồi từ người dân để từ đó có những phương hướng chính sách phát triển phù hợp với từng thời kì. Thứ hai, vai trò của truyền thông đối với công chúng: Truyền thông tác động đến nhận thức của công chúng về tất cả các vấn đề như: môi trường, quyền con người, bình 9 đẳng giới, văn hóa, xã hội, kinh tế, giáo dục và các vấn đề xã hội khác. Hoạt động truyền thông ủng hộ và lan tỏa các giá trị tích cực trong xã hội đến với công chúng truyền tải thông tin một cách nhanh chóng và hiệu quả đến tất cả mọi người.
Khuyến khích những hành vi tốt đẹp, đề cao đạo đức, bài trừ những hành vi xấu trong xã hội. Tạo ra môi trường giao tiếp và trao đổi thông tin hai chiều giữa công chúng, cho phép công chúng chia sẻ, phản đối hoặc đề xuất ý kiến cá nhân một cách hợp lý. Thứ ba, vai trò của truyền thông đối với doanh nghiệp: Hoạt động truyền thông có vai trò rất lớn đối với các doanh nghiệp. Nhờ vào truyền thông doanh nghiệp có thể tạo ra độ nhận diện thương hiệu, xây dựng hình ảnh và nâng cao danh tiếng thông qua các chiến dịch quảng cáo, marketing.Truyền thông giúp doanh nghiệp tiếp cận và tương tác với khách hàng, xây dựng quan hệ khách hàng tốt và tăng cường sự tín nhiệm, lòng tin của khách hàng đối với doanh nghiệp.
Hoạt động truyền thông giúp truyền tải thông tin về sản phẩm, dịch vụ, chính sách và hoạt động của doanh nghiệp đến công chúng và các đối tác liên quan. Như vậy, hoạt động truyền thông đóng vai trò quan trọng đối với nhà nước, doanh nghiệp và công chúng. Đối với nhà nước, truyền thông giúp cung cấp thông tin, thông điệp và chính sách đến người dân, đồng thời tạo điều kiện cho sự tương tác và tham gia dân chủ trong xã hội. Đối với doanh nghiệp, truyền thông là công cụ quan trọng để xây dựng hình ảnh thương hiệu, tiếp cận khách hàng, và tạo sự tin tưởng từ phía công chúng.
Còn với công chúng, truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục, thông tin và giải trí, đồng thời hỗ trợ trong việc phản ánh ý kiến và kiến thức xã hội. Vì vậy, hoạt động truyền thông là một phần không thể thiếu của đời sống xã hội hiện đại. Các yếu tố của truyền thông Có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng tựu chung lại, các yếu tố của truyền thông bao gồm: Nguồn; thông điệp; kênh truyền thông; nhiễu; đối tượng tiếp nhận. Nguồn phát hay nguồn tin: Nguồn phát (nguồn tin) có thể là một người, một nhóm người hay một tổ chức.
Nguồn phát (nguồn tin) là một tập hợp các tin mà hệ thống truyền tin dùng để lập các bảng tin hay thông báo khác nhau để truyền đi. Thông điệp: Là những thông tin mà người gửi muốn truyền đi đến người nhận. Thông điệp khi được truyền đi sẽ được mã hóa theo một hệ thống ký tự mà cả bên phát và nhận đều hiểu và chấp nhận. Thông điệp có hai chiều thông điệp gửi và thông điệp nhận.
Kênh truyền tin: Là hệ thống trung gian để truyền tin. Là các vật mang tin hoặc các phương tiện truyền thông. Cho phép truyền tải thông tin. Các kênh truyền tin như kênh chính thức và kênh không chính thức.
Các thông tin khác nhau tùy thuộc vào cách thức truyền tin: Sóng âm, sóng điện tử, tiếng nói, cử chỉ, hành động, văn bản. 10 Nhiễu: Là những yếu tố tác động làm giảm hiệu quả và chất lượng của quá trình truyền tin. Trong quá trình thông tin thường xảy ra sự sai lạc vào lúc phát đi hoặc lúc thu nhận tín hiệu do nhiều yếu tố tác động khác nhau gọi là nhiễu. Đối tượng tiếp nhận: là các cá thể hay tập thể người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông.
Mô hình lý thuyết truyền thông Quá trình Truyền thông tuy rất đa dạng, nhưng có đặc điểm chung. Muốn làm tốt hoạt động này cần hiểu rõ hoạt động của hệ thống Truyền thông, cách mà hệ thống đó truyền tải và phân tích thông tin. Dưới đây là mô hình Truyền thông marketing được nhà khoa học Kother giới thiệu: Hình 1.1: Mô hình biểu diễn các phần tử của quá trình truyền thông (Nguồn: Philip Kotler (2007), Marketing căn bản, bản dịch – NXB Lao động Xã hội) Giải thích một số thuật ngữ sau: Người gửi: Là bên gửi thông tin cho bên đối tượng muốn truyền tin của mình (nhà sản xuất gửi thông tin cho khách hàng). Mã hóa: Quá trình thể hiện thông tin dưới dạng ký hiệu có thể bằng chữ viết, lời nói, âm thanh hay hình ảnh thích hợp và có ý nghĩa để người nhận hiểu, biết, cảm nhận được thông tin mà người người muốn truyền đi.
Thông điệp: Tập hợp những ký hiệu do người gửi truyền đi. Phương tiện truyền tin: Các kênh truyền thông theo đó thông tin được truyền từ người gửi đến người nhận, nhà sản xuất có thể dùng rất nhiêu kênh thông tin như các kênh trực tiếp và các kênh gián tiếp. Giải mã: Quá trình người nhận gắn ý nghĩa cho những ký hiệu mà người gửi truyền đi, người nhận có thể giải mã đúng thông điệp có trường hợp hiểu sai thông điệp của người gửi. Phản ứng đáp lại: Là tập hợp những phản ứng đáp lại của người nhận nảy sinh do 11 tiếp xúc với thông tin.
Liên hệ ngược: Là phản ứng đáp lại mà người nhận thông báo cho người gửi biết. Phản hồi: Phản ứng đáp lại mà người nhận thông báo cho người gửi biết. Nhiễu: Sự xuất hiện trong quá trình truyền thông những ảnh hưởng ngoài dự kiến của môi trường hay những méo mó làm cho thông tin đến người nhận khác với thông tin do người gửi truyền đi như âm thanh quá ồn, thời gian quá ngắn hoặc quá dài, thông điệp khó hiểu v. Một số vấn đề chung về hoạt động truyền thông của sinh viên trường Đại học 1.